Dầu Tiếng, những góc nhớ.


Dầu Tiếng, những góc nhớ.

Xóm nhà thờ Trái Tim*.

Người có nhiều đất-đai nhất ở xóm Nhà Thờ Trái Tim, có lẽ là ông Trùm Thiêu. Khu đất của ông Trùm bắt đầu từ hàng rào hảng Michelin kéo dài tới cổng chánh của nhà thờ Trái Tim,một con đường đá đỏ ngăn-cách đất của ông Trùm và cổng nhà thờ. Ông Trùm có một người con duy-nhất là anh Thông, anh này có hai vợ và lái xe cho hảng Michelin, hai người vợ chuyên cấy rau muống đễ hái bán. Gọi là cấy vì người ta cắm rau muống xuống bùn như cấy mạ. Gọi là Trùm Thiêu, vì ông làm Trùm trong nhà thờ.
Đứng trước cổng nhà thờ Trái Tim, nếu quẹo phiá tay phải thì con đường dẫn ta tới cầu Tàu, qua cầu Tàu là cầu Con, qua cầu Con thì tới Bến Củi. Đi xa hơn nửa thì tới ngả ba Truông Mít. Từ ngả ba Truông Mít quẹo trái là đi Bời Lời, Trảng Bàng, quẹo phải thì đến Vên Vên, Cầu Khởi là hai đồn-điền cao-su, xa hơn là Tây Ninh. Bến Củi cũng là đồn-điền cao-su, nhưng Dầu Tiếng là đồn-điền cao-su lớn nhất ở vùng này.
Giàu nhất ở xóm này là ông Đinh Văn Mỵ, ông làm gác-dang ca đêm ở nhà Xẹc. Mổi tối ông ngũ trên chiếc ghế bố ở hành-lang, ban ngày ông là thầu xây-dựng. Có lẽ ông là thầu xây-dựng duy-nhất ở Dầu Tiếng. Ông có 3 vợ sống chung một nhà. Khi đã trỡ nên giàu-có, ông nghĩ làm gác-dang nhà Xẹc.
Cạnh nhà ông Mỵ là nhà ông Đinh Văn Yến, có tên khác là Xả Tít. Ông Yến có hai vợ trong nhà, chuyên nghề cấy-hái rau muống. Theo lời mọi người thì ông Yến, ông Mỵ và ông Ba Nhương là anh-em.
Nhân-vật quan-trọng nhất xóm này là Cha Sở, cha ở trong ngôi nhà có tường rào vây kín, cách nhà thờ vài trăm mét.
Đông con nhất xóm là ông Cai Củ.
Ông nói giọng miền Trung rất nhẹ, các con ông nói giọng Nam có chút xíu âm-hưỡng miền Trung. Ông độc-quyền nghề đóng-đáy trên khúc sông từ cầu Tàu trỡ lên ngọn. Ông thuê hai người giúp việc là anh Tâm và anh Tề, em của hai anh này là anh Hưu có thời-gian là bạn của tôi.Chị Ba Cường là người bán cá cho cha mình. Tôi chỉ biết từ chị Ba Cường tới anh út Mười, người thứ nhất và thứ nhì thì tôi không biết. Vào mùa Hè, bến sông Cai Củ là nơi bọn trẻ con ra tắm mát và chơi-giỡn.

Cha Sở, ông Trùm Thiêu, ông Mỵ, ông Xả Tít, ông Cai Củ là năm người nỗi bật nhất xóm này.

Cũng tại cổng nhà thờ Trái Tim, quẹo trái là ra ngả ba Cai Thanh, sát vách nhà Cai Thanh là tiệm hớt-tóc của ông Điển. Góc đối-diện góc Cai Thanh là nhà ông Ba Nhương, ông này có hai vợ, giống ông anh là Đinh Văn Mỵ có 3 vợ, môt người anh khác là Đinh Văn Yến cũng có hai vợ. Bên kia ngả ba đường là trụ-sở Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia. Đây là ranh-giới cuối của xóm nhà thờ Trái Tim, ra khõi đây là thuộc về xóm khác.

Xóm Nhà Thờ Trái Tim cũng bị kiếp-nạn Việt Cộng nhưng nhẹ hơn xóm Chùa Ba Lung.
Chĩ có ba người phãi “Hi-sinh cho cách-mạng”. Đó là anh Am, anh Tý và vợ của anh Am. Họ là hai con trai và con dâu của ông bà Xiềm.

* Mặt tiền của nhà thờ có đắp nỗi hình chúa Dê Su, trên ngực ngài có trái tim màu đỏ, phía trên trái tim là một ngọn lửa, có một vòng gai nhọn bao quanh trái tim. Người ở đây gọi nhà thờ Trái Tim là do nơi cái hình đắp nỗi này.

Xóm chùa Ba Lung.

Từ ngả ba Cai Thanh, nếu quẹo phải thì ra Cổng Bo, xóm Ba Rắc và Xóm Chợ, quẹo trái là xóm Bàu Sình cũng gọi là xóm chùa Ba Lung. Ông Ba Lung là chủ chùa Hoa Nghiêm, tên ông là Trần Kim Dong, trong số 6 người con của ông tôi biết hai người là Trần Kim Đồng và Trần Kim Chi, hai anh này đi theo Việt Cộng. Trong một đêm lẽn về thăm nhà và lấy đồ tiếp-tế, hai anh và đồng-đội lọt vào ổ phục-kích của lính VNCH ngay trước sân chùa. Kết-quả, một số xác chết bị bõ lại, trong đó có Kim Đồng và Kim Chi.
Ở khu-vực thị-trấn Dầu Tiếng có năm ấp và một xả. Xả Định Thành chính là thị-trấn Dầu Tiếng, xả này có năm ấp là 1,2,3,4, và 5.
Ấp 4 có 3 xóm: Xóm nhà thờ Trái Tim, xóm chùa Ba Lung (Xóm Bàu Sình) và xóm Các Thầy ở Cổng Bo. Trong 3 xóm thì xóm ‘Bàu Sình Chùa Ba Lung’ là hẻo-lánh nhất. Xóm này là xóm của Việt Cộng, ban ngày mà lính dân-vệ không dám về thăm nhà.
Và cũng chính cái xóm này đã hi-sinh xương máu cho Việt Cộng nhiều nhất.
Ông Ba Lung cống-hiến hai đứa con trai là Kim Đồng và Kim Chi, ông Út Khô Mắm ở kế bên có đứa con-trai-nuôi duy-nhất tên Nam cũng hi-sinh cho Việt Cộng. Ông Phúc ở cạnh ông Ông Út cũng mất 3 con trai là Phúc Truyền Vĩnh. Nặng nhất là gia-đình Bảy Bủng, ông Bảy Bủng và hai đứa con trai là cu Nhị, cu Y với người con rể tên Tân hi-sinh trong rừng cao-su hẻo-lánh, cả năm sau gia-đình mới nhận được tin. Nhà bà Cúc hiến hai con trai là Thọ và Nụ. Anh Thọ này rất gan-lỳ, đã lên đến chức đại-đội-trưởng tức là C-trưởng C 1. Ba anh em Bứt Mứt Rứt nhà ở Hầm Đá cũng đã hi-sinh. Những gia-đình hi-sinh một người thì có nhiều, không nhớ hết. Cũng không thể viết ra cho đủ vì danh-sách sẽ rất dài.
Xóm nhà thờ Trái Tim và xóm chùa Ba Lung là cái nôi tuổi thơ, là kí-ức đầu đời, có lẽ tôi sẽ nhớ mãi cho tới ngày nhắm mắt.
Cầu Tàu.
Cầu Tàu là cây cầu bắc ngang qua sông Sài Gòn nối Dầu Tiếng và Bến Củi. Ở đây là doạn ngọn của sông Sài Gòn nên dòng sông bị hẹp lại.
Qua khỏi Bến Củi là ngả ba Truông Mít. Từ ngả ba Truông Mít, nếu quẹo trái thì đi Bời Lời, Trảng Bàng. Quẹo tay phải thì đi Vên Vên, Trà Vỏ, Cầu Khởi, Tây Ninh.
Cầu Tàu là cầu sắt, mặt cầu lót bằng ván năm phân Tây.
Gọi là cầu Tàu là vì có bến tàu của đồn-điền cao-su Michelin ở gần đó. Gọi là bến tàu nhưng thật ra đó là bến ghe chài với một giàn cần trục dùng đễ lên xuống hàng-hóa. Bến ghe chài này là đầu mối giao-thông của đồn-điền và Sài Gòn. Thường xuyên có vài chiếc ghe chài đậu ở đây.
Cao-su sau khi được sấy chín, xe tãi sẽ chỡ từ nhà máy ra cầu tàu đễ cần trục chuyễn xuống ghe chài chỡ về Sài Gòn. Ở Sài Gòn, đội ghe chài đậu ở bến Cầu Ông Lãnh.
Sau khi giao hàng ở Sài Gòn xong, đội ghe chài sẽ nhận hàng nhu-yếu-phẩm đễ chỡ ngược về Dầu Tiếng. Hàng nhu-yếu phẩm có hai thứ quan-trọng nhất: Gạo và nước mắm. Sau hai ‘anh cả’ này thì mới đến phần anh bách-hóa linh-tinh khác. Ngày Tết thì phãi có bia Larue, nước ngọt BGI và vải đễ may quần áo.
Năm 1960, phong-trào Đồng Khỡi của Mặt-trận giãi-phóng miền Nam đã đánh chiếm kho hàng của Hảng (Đồn-điền cao-su MICHELIN) đễ cướp lương-thực và thuốc men. Họ chĩ chiếm Hảng có vài giờ đông-hồ, khoảng từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng thì họ rút. Trước khi trỡ về với rừng-rú, họ lăn cao-su ra đốt cầu Tàu. Vì quá vội-vàng nên lửa không được mạnh, cầu Tàu chĩ cháy iam-nham vài chổ, xe cộ vẫn qua lại được. Khi đã ỗn-định, người ta thay ván ở những chổ bị cháy.
Vào đêm hôm đó, khi nghe súng nỗ lốp-bốp ở nhiều nơi, cả nhà tôi trãi chiếu trên nền đất mà nằm chịu trận. Và đó là lần đầu tiên tôi nghe tiếng súng nỗ.

Giàn cần trục này được xây dựng rất kiên-cố chắc-chắn, đến nay vẫn còn đứng vững.(Xem hình)

*

Làng.

Đồn-điền cao-su Michelin Dầu Tiếng có 22 làng, từ làng Một tới làng Hai Mươi Hai, riêng làng 6bis dùng làm nhà thương, không có dân ở.
22 ngôi làng này hiện nay đã bị xóa tên, nhà cửa do Hảng xây nên ở những nơi này chỉ còn là lùm bụi.
Hai mươi hai ngôi làng này là do Hảng Michelin bõ tiền ra đễ xây-dựng, là tài-sản của Hảng.
Chủ đồn-điền hiện nay là nhà nước CHXHCN Việt Nam. (Trước kia, chủ-nhân là người Pháp).

Xả.

Xả Định Thành chính là thị-trấn Dầu Tiếng.
Xả có năm ấp là: Một Hai Ba Bốn và Năm.
(Ngoài xả Định Thành còn nhiều xả khác như: Định Phước, Định Lộc, Định Thọ…vv)
Quận Dầu Tiếng thuộc tỉnh Bình Dương.

Thời ông Diệm, Dầu Tiếng đươc đỗi tên là quận Trị Tâm.

Tỗng Thống Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng Hòa đã có cuộc kinh-lý thăm quận Dầu Tiếng. (Khoảng 1961-1962)

*

Những ‘chứng-nhân’ lớn tuổi hơn tác-giả.

       

 1. Bồn nước của Hảng.                                      2. Nhà đễ máy bay của Hảng.

       

3. Giàn cần trục của Hảng. (Cầu tàu)                                            4. Lô-cốt của Hảng.

Bao lâu rồi?


Bao lâu rồi?

Bao lâu rồi chưa về thăm Dầu Tiếng.
Rừng cao-su mấy độ lá thay mùa.
Đỉnh núi Cậu vẫn còn thiêm-thiếp ngũ?
Sông Sài Gòn có lai-láng mổi mùa mưa.

Ôi! Nỗi nhớ, nỗi buồn và nỗi tiếc.
Cứ tràn dâng như nước lũ miền Tây.
Tôi chào đời làm người dân nước Việt.
Thuở oe-oe chôn dây rốn ở nơi này.

Cha mẹ tôi đã về nơi quên lãng.
Bõ lại tôi lũi-thũi giửa cuộc đời.
Tôi rời quê đễ tha-phương cầu-thực.
Xa xứ Dầu mà thương nhớ không nguôi.

Bao nhiêu năm mới về thăm quê củ.
Lòng sôi reo những kĩ-niệm ấu thời.
Niềm thương nhớ nói bao nhiêu cho đủ.
Tôi thương người, thương lắm, xứ Dầu ơi!

Từ bến xe, đi bộ chừng 10 phút.
Tới Cổng Bo, quẹo phải hướng Bàu Sình.
Con lộ nhỏ dẫn tôi về quá-khứ.
Xóm nghèo ơi! Sao cứ mải điêu-linh.

Ngôi nhà củ, giờ chẵng còn dấu tích.
Đám cỏ hoang ngạo-nghễ vẫy tay chào.
Trưa nắng gắt, sao lòng tôi lạnh giá.
Thời-gian ơi, người tàn-nhẫn thế sao.

Những người củ, bây giờ đi đâu mất.
Nào Tý Am Diệu Rớt với Chánh Thành.
Gái Ngọc Viết, Cu Lùn và Cu Lớn.
Họ về đâu đễ hoang lạnh nơi đây.

Xóm Nhà Thờ với Xóm Chùa sát vách.
Bên này chuông, bên kia mõ hòa nhau.
Ôi, cái thuở thanh-bình xưa đã mất.
Những nhang trầm, bánh Thánh có còn đâu!

Tôi lạc-lõng giửa khung trời quê củ.
Tuổi ấu-thơ không có nẻo quay về.
Bẩy mươi năm, chợt vèo như giấc ngủ.
Ôi, cuộc đời! Mi chẵng khác cơn mê.

Khi cuộc sống, khỗ đau và cái chết.
Luôn reo vang chiếm ngự thế-gian này.
Một kiếp người, buông tay là chấm hết.
Chẵng còn gì, ngoài một chiếc lá bay.
Chí Phèo Nguyển-văn-Lợi

Trước khi tôi chào đời, cái lô-cốt này đã có mặt.

Mục-đích thật sự của “Luật an-ninh mạng” là gì?*


Mục-đích thật sự của “Luật an-ninh mạng” là gì?*

Là nô-dịch-hóa người Việt Nam về mặt truyền-thông và tư-tưỡng.

Là loại bõ Yahoo, Google, Facebook và Twitter…vv…, đễ buộc người Việt Nam phãi sữ-dụng các mạng của Trung Cộng như  Sina Weibo,  Renren, QQ, Youku, Wechat…vv…

Đòn này thật hiểm-độc, nó buộc 90 triệu người Việt Nam bị lệ-thuộc vào truyền-thông của Trung  Cộng, nói trắng ra là nô-lệ về tư-tưỡng.

Mưu-đồ nham-hiểm và khốn-nạn của Việt Cộng và Trung Cộng là:

-Việt Nam phãi nô-lệ về chánh-trị.

-Việt Nam phãi nô-lệ về kinh-tế.

-Việt Nam phãi nô-lệ về lảnh-thổ.

-Việt nam phãi nô-lệ về tư-tưỡng.

-Việt Nam phãi nô-lệ về truyền-thống.

-Việt Nam phãi nô-lệ về văn-hóa.

-Việt Nam phãi nô-lệ về dân-tộc (Chủng-tộc).

Tóm lại Việt Nam chĩ là một tỉnh tự-trị của Trung Cộng.

*

Đảng CSVN ‘nằm dưới sự lãnh-đạo’ của đảng CSTQ là nô-lệ về chánh-trị.

“Luật đặc-khu” và cho Trung Cộng thuê đất dài hạn là nô-lệ về lảnh-thổ.

“Luật an-ninh mạng” là nô-lệ về truyền-thông và tư-tưỡng.

Chiến-lược làm ‘khu chế xuất cho Trung Cộng’ là nô-lệ về kinh-tế.

Lạm-dụng Hán Việt đến mức phi- lý là nô-lệ về truyền-thống.

Đạp đỗ nền tảng đạo-lý xả-hội Việt Nam là chuẫn-bị cho dân-tộc làm nô-lệ.

Làm cho nền giáo-dục suy- đồi là chuẫn-bị cho việc nô-lệ văn-hóa.

*

Suốt lịch-sử dân-tộc chưa có thời -kỳ nào đen tối như hiện nay, nguy-cơ bị nô-lệ và đồng-hóa là rất cao, vấn-đề chỉ là thời-gian. Việt Cộng và Tàu Cộng không bao từ bõ âm-mưu hiểm độc mất tính người , nhằm đạt được mục-đích đen tối.

Từ Mao và tiếp theo là Bình Tiểu, Dân, Đào, Bình Cận đều theo di-huấn của Hán, Nguyên, Minh, Thanh là phãi đồng-hóa cho bằng được người Việt Nam. Chưa bao giờ bọn chúng xa rời mục-đích này.

Việt Cộng và Trung Cộng rất nóng ruột, sợ lâu  ngày sẽ sanh biến, nên đang dồn mọi nỗ-lực đẫy mạnh tốc-độ nô-dịch-hóa Việt Nam. Chúng đã thành-công phần nào trong việc ‘chủ và tớ’ gặm nhấm lảnh-thổ Việt Nam, nhưng về mặt tư-tưỡng thì kết-quả rất hạn-chế. Chĩ có một số rất ít theo đuôi Ba Đình Hà Nội cam-tâm làm nô tài cho Tàu Chệt, đễ kiếm vài đồng tiền Nguyên .

*

Chúng ta phãi làm gì trong tình-thế nguy-khốn hiện nay?

Chúng ta càn tận-dụng những gì mà chúng ta có, đễ chống lại bọn bán nước và bọn cướp nước.

Chúng khộng được sợ hãi, nếu sợ-hãi bọn trước Chệt Tàu và Chệt Việt thì chúng ta sẽ chết và mất nước. Nếu chẵng may chúng ta chết hôm nay, thì  ngày mai khõi chết. Chết đễ cho con cháu trường-tồn thì cũng đáng lắm.

Triệt-đễ khai-thác sự trợ-giúp của cộng-đồng tự-do dân-chủ trên thế-giới. Không có sự trợ-giúp của họ, chúng ta sẽ nhiều phần thất-bại. Các Tỗ-chức bão-vệ nhân-quyền, dân chủ và tự-do trên thế-giới sẽ ũng-hộ và giúp đỡ chúng ta.

Bọn Việt Cộng nằm vùng thường dùng thủ-đoạn bài-ngoại đễ giết chết phong-trào cứu nguy tổ-quốc từ trong trưng nước. Trò này rất nham-hiễm và nguy-hiễm.

Bọn chúng lu-loa:

Chúng ta chĩ dùng nội-lực đễ đấu-tranh, dựa vào nước ngoài là làm tay sai cho ngoại-bang, là phãn-quốc.

Trong khi chính bọn chúng đang làm tay sai cho Trung Cộng, tất-cả bộ máy đảng và nhà nước của bọn chúng được Trung Cộng nuôi-dưỡng và chĩ-huy. Dùi-cui, còng số 8, súng AK của bọn chúng dùng đễ đàn-áp người Việt Nam là do Tàu Cộng cung-cấp. Khoản này thì Tàu Cộng rất hào-phóng, bọn Việt Cộng muốn bao nhiêu cũng có, không hạn-chế.

Hãy ngĩ xem:

Lực-lượng cứu nguy dân-tộc chĩ có hai bàn tay trắng, trên răng dưới dép mà chống lại bộ máy đàn-áp khổng-lồ của bạo-quyền Việt Cộng  với hê-thống chánh-quyền hà-khắc dày đặc, cùng với bọn công-an và quân-đội trong tay, có đầy đủ thậm-chí dư dùng những vũ-khí như: Dùi-cui, còng số 8, súng AK, xe tăng, trại giam cùng với nhà tù.

Với tương-quan thế và lực như vậy,  thì làm sao đễ chúng ta có thễ tự-vệ, chớ đừng nói tới thắng-lơi. Vì vậy chúng ta rất cần sự ũng-hộ và giúp đỡ của quốc-tế, làm cho bọn chúng phãi chùn tay, bớt tàn-bạo. Phãi làm cho thế-giới thấy việc chúng ta phãn-đối chế-độ độc-tài đảng trị tàn-bạo và chống lại bá-quyền phương Bắc đang thôn-tính đất nước chúng ta là chánh-nghỉa, là việc bắt buộc phãi làm.

Không có sự giúp đỡ của quốc-tế, chúng ta rất khó thàng-công.

Sự sanh-tồn của dân-tộc Việt Nam trước nguy-cơ nô-dịch-hóa của bọn Việt Chệt và Tàu Chệt hiện nay là có thật, rất thật và rất nguy-cấp.

*

Việt Cộng nói vậy mà không phãi vậy.

Đừng nghe những gì Việt Cộng nói, mà hãy nhìn kỹ những gì mà Việt Cộng làm.

Nguyễn Sài Gòn

Nhân-quyền là gì?


Nhân-quyền là gì?

Nhân-quyền là những quyền có sẵn đối với tất-cả mọi người, bất-kể chủng-tộc, giới-tính, quốc-tịch, dân- tộc, ngôn-ngữ, tôn-giáo hay bất-kỳ tình-trạng nào khác. Nhân-quyền bao gồm quyền sống và tự-do, không bị nô-lệ và tra-tấn, tự-do quan-điểm và biểu-hiện, quyền làm việc , quyền giáo-dục, và nhiều hơn nữa. Mọi người đều được hưởng các quyền này, không phân-biệt đối-xử.
Luật quốctế Nhân-quyền

Luật nhân-quyền quốc-tế đưa ra các nghĩa-vụ của Chánh-phủ, để hành-động theo những cách nhất-định hoặc kiềm-chế các hành-vi nhất định, nhằm thúc-đẩy và bảo-vệ quyền-con-người, cùng các quyền tự-do căn-bản khác của cá-nhân hoặc các nhóm.

Một trong những thành-tựu to lớn của Liên-hiệp-quốc, là việc tạo ra một bộ Luật Nhân Quyền toàn-diện — một luật được bảo-vệ toàn cầu–, mà tất-cả các quốc-gia đều có thể đăng-ký và tất-cả mọi người đều mong muốn. Liên-hiệp-quốc đã xác-định một loạt các quyền được quốc-tế chấp-nhận, bao gồm:

Các quyền dân-sự, văn-hoá, kinh-tế, chánh-trị và xã-hội. Nó cũng đã thiết-lập các cơ-chế để thúc đẩy việc bảo-vệ các quyền này, và hỗ-trợ các quốc-gia thực-hiện trách-nhiệm của mình.

Cơ-sở của bộ luật này là Hiến-chương của Liên Hợp Quốc và Tuyên-ngôn Thế-giới về Nhân-quyền, được Đại-hội-đồng thông qua lần lượt vào các năm 1945 và 1948. Kể từ đó, Liên-hiệp-quốc đã từng bước mở rộng luật về Quyền Con Người để bao gồm các tiêu-chuẩn cụ-thể cho phụ-nữ, trẻ em, người khuyết-tật, người thiểu-số và các nhóm dễ bị tổn-thương khác, những người hiện có quyền bảo-vệ họ khỏi sự phân- biệt đối-xử từ lâu đã phổ-biến ở nhiều xã-hội.

Tuyênngôn thếgiới về Quyền Lợi Của Con Người.

Tuyên-ngôn Thế-giới về Quyền-con-người (UDHR) là một mốc quan-trọng trong lịch-sử nhân-quyền. Tuyên-bố này do Đại-hội-đồng Liên Hiệp Quốc tại Paris công-bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, bởi nghị quyết 217 A (III) của Đại-hội-đồng Liên-hiệp-quốc do các đại-diện có nền văn-hoá pháp-luật và văn-hoá khác nhau soạn-thảo, như một tiêu-chuẩn chung về thành-tựu cho mọi dân-tộc và tất cả các quốc-gia. Tuyên-ngôn này  đưa ra lần đầu tiên, các quyền con người căn-bản được bảo-vệ phổ-quát. Từ khi được thông-qua vào năm 1948, UDHR đã được dịch ra hơn 501 ngôn-ngữ,  là tài-liệu được dịch nhiều nhất trên thế-giới – và đã lấy cảm-hứng từ các hiến-pháp của nhiều quốc-gia mới độc-lập và nhiều nền dân-chủ-mới còn non trẻ.

UDHR, cùng với Công-ước Quốc-tế về Các Quyền Dân-sự và Chánh-trị, cùng hai Nghị-định-thư Tùy-chọn (về thủ-tục khiếu-nại và hình-phạt tử-hình) và Công-ước Quốc-tế về Các Quyền Kinh-tế, Xã-hội và Văn-hoá và Nghị-định-thư bổ-sung, tạo thành nền tảng của Dự-luật nhân-quyền quốc-tế.
Các quyền kinhtế, xãhội và vănhoá.

Công-ước Quốc-tế về Các Quyền Kinh-tế, Xã-hội và Văn-hoá bắt đầu có hiệu-lực vào năm 1976, và có đến 164 nước tham-gia vào cuối tháng 10 năm 2016. Các quyền-con-người mà Công-ước muốn thúc đẩy và bảo-vệ bao gồm:

Quyền làm việc trong điều-kiện bình-thường, thuận- lợi;
quyền được bảo-
vệ xã-hội, mức sống phù-hợp và đạt được mức cao nhất về thể-chất và tinh-thần;
quyền giáo-
dục và hưởng lợi từ tự-do văn-hoá và tiến-bộ khoa-học.

Quyền côngdân và chánhtrị.

Công-ước quốc-tế về các quyền Dân sự và Chánh-trị và Nghị-định-thư bổ-sung đầu tiên có hiệu-lực vào năm 1976. Giao-ước quốc-tế này đã có 167 nước công-nhận vào cuối năm 2010. Nghị-định-thư bổ-sung thứ hai được thông qua vào năm 1989.

Giaoước đề-cập đến các quyền như:  Quyền tự-do đi lại; sự công-bằng trước pháp-luật; quyền được xét- xử công-bằng và giả-định vô-tội; tự-do tư-tưởng  và tôn-giáo; tự -do ngôn-luận và biểu-đạt; hòa-bình; tự-do hiệp-hội; tham-gia vào các hoạt-động công-cộng và bầu-cử; và bảo-vệ các quyền của người thiểu-số.

Nó nghiêm-cấm việc tùy tiện tước đi cuộc sống; tra-tấn, đối-xử tàn-bạo hoặc hạ-nhục; nô-lệ và lao-động cưỡng-bách; bắt giữ hoặc giam cầm tùy-tiện; can-thiệp tùy-tiện tới sự riêng tư; tuyên- truyền chiến-tranh; kỳ-thị; và vận-động hận-thù chủng-tộc hay tôn-giáo.
Các Côngước Nhânquyền.

Một loạt các hiệp-ước quốc -về nhân-quyền và các công-cụ khác được thông qua từ năm 1945 đã mở rộng tầm bão-vệ  của luật nhân-quyền quốc-tế.

Bao gồm:

Công ước về:  Ngăn ngừa và Trừng phạt Tội phạm Tội diệt chủng (1948).

Công ước Quốc tế về:  Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử (1965).

Công ước về:  Xoá bỏ mọi hình thức Phân biệt đối xử với Phụ nữ (1979).

Công ước về:  Quyền của Trẻ em (1989),

và Công ước về:  Quyền của Người Khuyết tật (2006).

Hộiđồng nhânquyền.

Hội-đồng Nhân-quyền được thành-lập ngày 15 tháng 3 năm 2006, là cơ-quan trực-thuộc  Đại-hội-đồng và báo-cáo trực- tiếp với Hội-đồng, đã thay thế Ủy-ban Nhân-quyền LHQ . (Suốt 60 năm là cơ-quan liên-chánh-phủ quan-trọng chịu trách-nhiệm về nhân-quyền). Hội-đồng gồm có 47 đại-diện cấp quốc-gia, có nhiệm-vụ đẩy mạnh việc bảo- vệ quyền-con-người trên toàn-cầu, bằng cách giải-quyết các tình-huống vi-phạm nhân-quyền và đưa ra các khuyến-nghị đối với họ, bao gồm việc đáp-ứng các trường-hợp khẩn-cấp về nhân-quyền.

Tính-năng sáng-tạo nhất của Hội-đồng Nhân-quyền là Đánh giá Địnhkỳ Toàn-cầu. Cơ-chế độc-nhất này bao gồm việc xem lại hồ-sơ nhân-quyền của tất cả 192 quốc-gia thành-viên của Liên Hợp Quốc, cứ mỗi bốn năm một lần. Đánh giá là một quá-trình hợp-tác theo cấp nhà nước, dưới sự bảo-trợ của Hội-đồng, tạo cơ-hội cho mỗi quốc-gia trình-bày các biện-pháp được thực-hiện và những thách-thức phải đáp-ứng để cãi -thiện tình-hình nhân-quyền ở nước họ,  cùng với việc đáp ứng các nghĩa-vụ quốc-tế của họ. Đánh giá được thiết-kế để đảm-bảo tính phổ-cập và bình-đẳng trong điều-trị cho mọi quốc-gia.
Caoủy Nhânquyền LHQ.

Cao-uỷ Liên-hợp-quốc về Nhân-quyền thực-hiện trách-nhiệm chính đối với các hoạt-động nhân-quyền của LHQ. Cao-uỷ được uỷ-nhiệm để đối-phó với các vi-phạm nghiêm-trọng về nhân-quyền và thực-hiện hành-động phòng ngừa.

Văn phòng Cao-ủy Nhân-quyền (OHCHR) là đầu mối cho các hoạt-động nhân-quyền của LHQ. Nó đóng vai trò là ban thư-ký cho Hội-đồng Nhân-quyền, các ‘cơ-quan hiệp-ước’ (là các ủy-ban chuyên-gia theo dõi việc tuân-thủ hiệp-ước) và các cơ-quan nhân-quyền khác của LHQ. Chương-trình cũng cam-kết thực-hiện các hoạt-động khác về nhân-quyền

Hầu hết các hiệp-ước nhân-quyền cốt lõi đều có một cơ-quan giám-sát có trách-nhiệm xem xét việc thực- hiện hiệp-ước mà các nước đã phê-chuẩn. Các cá-nhân, có quyền-con-người  bị vi-phạm có thể nộp đơn khiếu-nại trực-tiếp cho các Ủy-ban giám-sát các hiệp-ước về quyền-con-người.
Nhânquyền và Hệthống LHQ.

Nhân-quyền là một chủ-đề xuyên-suốt trong tất cả các chánh-sách và chương-trình của LHQ, trong các lãnh-vực chánh là:

Hòa-bình, an-ninh, phát-triển, viện-trợ nhân-đạo và các vấn-đề kinh-tế xã-hội.

Do đó, hầu như mọi cơ-quan LHQ và cơ-quan chuyên-môn, đều tham-gia vào với một mức độ nào đó trong việc bảo- vệ Quyền Con Người.

Một số ví-dụ là quyền phát-triển, đó là cốt lõi của các Mục-tiêu Phát-triển Bền-vững; quyền của người lao-động, được Tổ-chức Lao-động Quốc-tế xác-định và bảo-vệ; bình-đẳng- giới do phụ-nữ LHQ ban-hành; quyền trẻ em; quyền của người bản-địa và người tàn-tật.

Ngày nhân
quyền được tổ-chức hàng năm vào ngày 10 tháng 12.
Chí Phèo Nguyển-v ăn-Lợi

Dân-chủ là gì?


Dânchủ bao gồm bốn yếutố căn-bản:
1.Một hệ-thống chánh-trị để lựa chọn và thay thế chính-phủ thông qua bầu-cử tự-do và công-bằng.
2. Sự tham-gia tích-cực của mọi người, với tư-cách là công-dân, trong chánh-trị và đời sống xả-hội.
3. Bảo-vệ quyền con người của mọi công-dân.
4. Mọi quy-định của pháp-luật, trong đó luật-phúp và thủ-tục được ‘áp dụng như nhau’ đối với mọi công-dân.

  1. Dânchủ như một hệthống chánhtrị có sự cạnhtranh về quyềnlực.
    Dân-chủ là phương-tiện để mọi người lựa chọn lãnh-đạo, và giữ lãnh-đạo của họ có trách-nhiệm với các chánh-sách, cách ứng-xử của họ tại cơ-quan.
    Người dân quyết-định ai sẽ đại-diện cho họ trong quốc-hội, và ai sẽ đứng đầu chánh-phủ ở cấp quốc-gia và địa-phương.

Họ làm như vậy bằng cách lựa chọn giữa các bên cạnh-tranh với nhau, trong cuộc bầu-cử thường- lệ, tự-do và công -bằng.
Chánh-phủ được thành-lập trên sự đồng-ý của đa-số công-dân, qua việc lựa chọn bằng lá phiếu.
Trong một nền dân-chủ, nhân-dân có chủ-quyền hoàn-toàn. Họ là hình-thức quyền-lực chánh-trị cao nhất.
Lòng tin của công-dân sẽ ãnh-hưỡng đến uy-tín của các nhà lãnh-đạo, chánh-phủ chỉ nắm giữ quyền-lực tạm thời trong một thời-gian nhất định.
Luật-pháp và chánh-sách đòi hỏi phải có sự ủng-hộ lớn trong quốc-hội, nhưng các quyền của các nhóm thiểu-số vẫn được bảo-vệ bằng nhiều cách khác nhau.
Người dân được tự-do chỉ-trích các nhà lãnh-đạo và đại-diện được bầu của họ, quan-sát cách họ tiến- hành công việc của chánh-phủ.
Các đại-diện do cử-tri bầu lên ở cấp quốc-gia và địa-phương, nên lắng nghe người dân và đáp-ứng nhu-cầu và đề- xuất của họ.
Các cuộc bầu-cử phải diễn ra theo những khoảng thời-gian đều-đặn, theo luật định. Những người nắm quyền không thể mở rộng nhiệm-kỳ của mình, mà không cần đến việc bầu-cử.
Đối với các cuộc bầu-cử được tự-do và côngbằng, phải được quản-lý bởi một cơ-quan trung-lập, công -bằng và chuyên-nghiệp, đối xử bình-đẳng với tất cả các đảng phái chánh-trị và ứng-cử -viên.
Tất cả các bên và ứng-viên phải có quyền tự-do vận-động, trình-bày đề-xuất với cử-tri một cách trực-tiếp và thông qua các phương-tiện thông-tin đại-chúng.
Cử-tri phải có quyền bỏ phiếu kín, không bị hăm dọa và bạo-lực.
Các nhà quan-sát độc-lập phải có quyền theo dõi việc bỏ phiếu, để đảm-bảo rằng quá trình này không có tham-nhũng, hăm dọa và gian lận.
Cần phải có một số tòa án độc-lập, để giải-quyết bất kỳ tranh-chấp nào về kết-quả bầu-cử.
Đó là lý-do tại sao phải mất rất nhiều thời-gian, để tổ-chức một cuộc bầu-cử dân-chủ đúng nghỉa .
Bất-kỳ quốc-gia nào cũng có thể tổ-chức bầu-cử, nhưng để bầu-cử tự-do và công-bằng đòi hỏi rất nhiều công sức tổ-chức, chuẩn-bị và đào-tạo các đảng chánh-trị, các quan chức bầu-cử, và các tổ-chức xã-hội dân sự giám-sát quá-trình này.

  1. Sự thamgia: Vai trò của công dân trong một nền dân chủ.
    Vai trò then-chốt của công-dân trong một nền dân-chủ là tham-gia vào đời sống công-cộng.
    Công-dân có nghĩa-vụ phải thông-báo cho chánh-quyền biết về các vấn-đề công-cộng, xem-xét kỹ lưỡng cách mà các nhà lãnh-đạo chánh-trị và các đại-diện của họ sử-dụng quyền hạn, và thể-hiện quan-điểm và lợi-ích riêng của mình.
    Bõ phiếu trong các cuộc bầu-cử là một nghĩa-vụ quan-trọng của mọi công-dân.

Nhưng để bõ phiếu một cách khôn ngoan, mỗi người dân nên lắng nghe quan-điểm của các bên và các ứng-cử-viên khác nhau, và sau đó quyết-định của chính mình sẽ hỗ-trợ cho ai.
Sự tham-gia cũng có thể liên-quan đến vận-động tranh-cử cho một đảng phái chánh-trị hoặc ứng-cử- viên, đúng như một ứng-cử-viên cho chức vụ chánh-trị, tranh-luận các vấn-đề công-cộng, tham-dự các cuộc họp cộng-đồng, kiến ​-nghị với chánh-phủ và thậm-chí phản-đối.
Một hình-thức quan-trọng khác của sự tham-gia, là  thông qua các thành-viên tích-cực trong các tổ-chức độc-lập, phi-chánh-phủ, những gì chúng ta gọi là “xã hội dân sự”.
Các tổ-chức này đại-diện cho nhiều lợi-ích và niềm tin của các giới:

Nông-dân, công-nhân, bác-sĩ, giáo-viên, chủ doanh-nghiệp, tín-đồ tôn-giáo, phụ-nữ, sinh-viên, nhà hoạt-động nhân-quyền…
Điều quan-trọng nửa, là phụ-nữ phãi tham-gia đầy-đủ vào chánh-trị và trong xã-hội dân-sự.
Điều này đòi hỏi các tổ-chức xã-hội dân-sự phãi hết sức nỗ-lực để hướng-dẫn phụ-nữ về quyền và nghĩa-vụ dân-chủ của họ, nâng cao kỹ-năng chánh-trị, đại-diện cho lợi-ích chung của nử-giới, và đưa họ tham-gia vào đời sống chánh-trị.

Trong một nền dân-chủ, việc tham-gia vào các nhóm dân-sự phải là tự-nguyện. Không ai ép buộc ai,phải tham- gia một tổ -chức chống lại ý muốn của họ.

III. Quyền của côngdân trong một nền dânchủ.
Trong một nền dân-chủ, mọi công-dân đều có một số quyền cơ-bản mà nhà nước không thể lấy đi khỏi họ.
Những quyền này được bảo-đảm theo luật-pháp quốc-tế.
Bạn có quyền có niềm tin của riêng mình, nói và viết những gì bạn nghĩ.
Không ai có thể bắt-buộc bạn phãi cho họ biết những gì bạn suy-nghĩ, sự tin-tưởng của bạn và nói hay không nói một điều gì đó.
Có tự-do tôn-giáo. Mọi người đều được tự-do lựa chọn tôn-giáo, thờ phượng và thực-hành tôn- giáo của họ khi họ thấy phù-hợp.

Mỗi cá-nhân đều có quyền hưởng-thụ văn-hóa riêng , cùng với các thành-viên khác trong nhóm, ngay cả khi nhóm của họ là thiểu-số.

Có nhiều tự-do và đa-nguyên trong các phương-tiện thông-tin đại-chúng.
Bạn có thể chọn giữa các nguồn tin và ý-kiến ​​khác nhau để đọc trên báo, nghe trên đài phát-thanh, và xem trên truyền-hình.
Bạn có quyền liên-kết với người khác, để thành-lập và tham-gia các tổ-chức theo sự lựa chọn của bạn, bao gồm cả Công-đoàn.
Bạn được tự-do di-chuyển trong  đất nước của mình, và nếu bạn muốn, bạn có quyền rời khỏi đất nước.
Bạn có quyền tụ-tập và hội-họp tự-do, và để phản-đối hành-động nào đó của chánh-phủ.
Tuy-nhiên, mọi người đều có nghĩa-vụ thực-hiện các quyền này một cách hòa-bình, tôn-trọng pháp-luật và vì quyền của người khác.

  1. Luậtpháp.
    Dân-chủ là một hệ-thống cai-trị bằng pháp-luật, chứ không phải bởi các cá-nhân.
    Trong chế-độ dân-chủ, luật-pháp bảo- vệ quyền của công-dân, duy-trì trật-tự và hạn-chế quyền-lực của chánh-phủ.
    Mọi công-dân đều bình-đẳng theo luật-pháp. Không ai có thể bị phân-biệt đối-xử dựa trên chủng-tộc, tôn-giáo, dân-tộc hoặc giới-tính của họ.
    Không ai có thể bị bắt, bỏ tù, hoặc bị lưu-đày tùy-tiện.
    Nếu bạn bị giam-giữ, bạn có quyền biết các cáo-buộc đối với bạn, và được cho là vô-tội cho đến khi được chứng-minh là có tội theo luật-pháp.
    Bất-cứ ai bị truy-tố về tội-phạm đều có quyền được xét-xử công-bằng, nhanh chóng và công-khai bởi một tòa-án vô-tư.
    Không ai có thể bị đánh thuế hoặc truy-tố vô-cớ , mà phãi theo quy-định của pháp-luật.
    Không ai ở trên luật-pháp, dù là vua hay một tổng-thống được bầu.
    Luật-pháp là công-bằng, và được thi-hành một cách nhất-quán, bởi các tòa-án độc-lập với các chi nhánh khác của chánhphủ.
    Tra-tấn và đối xử tàn-nhẫn và vô-nhân-đạo là hoàn-toàn bị cấm.
    Các quy-định của pháp-luật đặt ra giới-hạn về quyền-lực của chánh-phủ. Không viên chức chánh-phủ nào có thể vi-phạm những giới-hạn này.
    Không có nhà cai-trị,bộ-trưởng hay đảng phái chánh-trị nào có thể yêu-cầu thẩm-phán ra quyết-định theo ý họ.
    Quan chức và các cơ-quan của chánh-quyền các cấp, không được sử-dụng quyền-lực của họ để làm giàu cho mình.

Các tòa-án độc-lập và các ủy-ban bài-trừ  tham-nhũng, sẽ trừng-phạt đúng mức của pháp-luật, bất kể người đó là ai, nếu họ có tội.
Các giớihạn và yêucầu đối với dânchủ.

Khi nền dân-chủ được thực-hiện, người dân không chỉ phải tham-gia và thực-hiện các quyền của họ.

Mà họ cũng còn phải tuân-thủ các nguyên-tắc và quy-tắc nhất định về hành-vi dân-chủ.
Mọi người phải tôn-trọng pháp-luật và bác bỏ bạo-lực. Không có gì biện-minh cho việc sử-dụng bạo-lực chống lại các đối-thủ chánh-trị của bạn, chỉ vì bạn không đồng-ý với họ.

Mọi công-dân phải tôn-trọng quyền và phẩm-giá của người khác, vì  họ cũng là con người như chính ta.
Không ai được phép tố-cáo đối-thủ chánh-trị một cách ác-ý và bất-hợp-pháp, chỉ vì họ có quan-điểm khác với mình.

Mọi người nên đặt câu hỏi về quyết-định của chánh-phủ, nhưng không từ-chối thẩm-quyền của chánh- phủ.
Mỗi nhóm đều có quyền thực-hành văn-hoá riêng của mình, và tự kiểm-soát những công việc của nhóm mình làm, nhưng mỗi nhóm phải chấp-nhận rằng nó là một phần của một nhà nước dân-chủ.
Khi bạn bày tỏ ý-kiến ​​của mình, bạn cũng nên lắng nghe quan-điểm của người khác, kể cả những người mà bạn không đồng-ý với họ. Mọi người đều có quyền được nghe.
Đừng quá tự-tin về sự đúng-đắn của quan-điểm của mình, mà từ-chối nhìn thấy bất-kỳ tài-năng và đức-độ ở nơi người khác. Xem xét các xu-hướng và quan-điểm khác với ta.
Khi bạn đưa ra các yêu-cầu, bạn nên hiểu rằng trong một nền dân-chủ, mọi người không thể đạt được mọi thứ họ muốn.Dân-chủ đòi hỏi sự thỏa-hiệp. Các nhóm có sở-thích và ý-kiến ​​khác nhau phải sẵn-sàng ngồi xuống với nhau và đàm-phán.
Trong một nền dân-chủ, một nhóm không phải lúc nào cũng giành được mọi thứ nó muốn. Sự kết-hợp khác nhau của các nhóm giành chiến-thắng trên các vấn-đề khác nhau. Theo thời-gian, mọi người đều thắng một cái gì đó.
Nếu một nhóm luôn bị loại-trừ và không được lắng nghe, nó có thể quay ngược lại với chế-độ dân-chủ trong sự tức-giận và thất-vọng.
Mọi người sẵn lòng tham-gia một cách hòa-bình và tôn-trọng quyền của người khác, đó là  nền tảng của việc quãn-lí đất nước.

Chí Phèo Nguyển-văn-Lợi