Quy-tắc viết chử Việt.


Quy-tắc viết chử Việt.

(Bản phác-thảo)  Cập-nhật ngày 22-08-2014

Chử Việt còn được gọi là chử Quốc-ngử, do giáo-sỷ A-lếch-xăng Đờ Rốt cùng với các đồng-sự sáng-tạo ra, với mục-đích là để phục-vụ việc truyền-giáo ở Việt Nam.

Bằng cách dùng mẩu-tự La Tinh để ký-âm tiếng Việt, các giáo-sỷ đã tạo ra một thứ chử riêng biệt cho người Việt Nam, hoàn-toàn độc-lập với văn-tự của các quốc-gia khác trên thế-giới.Giáo-sỷ A-lếch-xăng Đờ Rốt và các đồng-sự đã có công rất lớn đối với chúng ta.

Suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã phải dùng thứ chử của người Tàu trong mọi hoạt-đông của đất nước và dân-tộc.Tưỡng như chúng ta sẽ mãi-mãi ỡ trong cái vòng kim-cô văn-tự của người Trung-quốc mà không bao giờ có-thể thoát ra được.Nhưng mọi việc đã bất-ngờ thay đỗi một cách rất ngoạn-mục.

Và ngay từ lúc chử Việt mới ra đời, có mấy ai thấy được một tương-lai rực-rỡ của văn-tự Việt Nam, hoàn-toàn độc-lập tiến lên trên con đường riêng thênh-thang của chính mình, sánh vai ngang hàng với văn-tự của các nước khác trên thế-giới. Thật đáng tự-hào.

Trước đây, chúng ta chỉ mới giành được độc-lập, tự-chủ về lảnh-thổ.

Hiện nay, chúng ta đã giành được độc-lập, tự-chủ về văn-tự, văn-hóa.

Có thể nói độc-lập, tự-chủ về văn-tự,văn-hóa còn quan-trọng hơn độc-lập về lãnh-thổ.

Lảnh-thổ mất, có thể lấy lại được.Văn-tự, văn-hóa mất đi thì dân-tộc Việt Nam sẽ bị diệt vong hoặc đời-đời làm nô-lệ cho chủng-tộc khác.Như vậy không đáng sợ hay sao?.

Đối với riêng tôi, văn-tự Việt Nam(chử Quốc Ngử) là linh-hồn của dân-tộc và đất nước. Chử Quốc-ngử còn, thì Việt Nam còn, điều đó đã trỡ thành chân-lý, không thễ tranh cãi.

Chử Việt ra đời đã gần bốn (400) trăm năm.

Đối với văn-tự của một quốc-gia thì thời-gian 400 trăm chỉ là một dấu phẫy, chỉ là sự khỡi đầu.Tiếng nói và chử viết của người Việt Nam cần đến hàng ngàn năm nửa để

trưởng-thành và hoàn-thiện.Đó là điều cần-thiết tự-nhiên trong dòng chãy lịch-sử của loài người.Thời-gian có thễ làm nên tất-cả hoặc cũng sẽ xóa bõ tất-cả.

Trước khi biết dùng sợi chỉ đễ làm sạch răng,thì loài người đã mất hàng ngàn năm chỉ

dùng cây tăm đễ sĩa răng.Từ cây tăm đi đến sợi chỉ phãi mất cả ngàn năm.Và hiện nay rất nhiều người Việt Nam vẫn còn giữ thói quen làm sạch răng bằng cây tăm. Trong khi việc thay đỗi thói quen rất cần-thiết cho sự tiến-bộ thì chẵng có mấy ai quan-tâm.

Trong quá-trình phát-triển, chử Việt cũng gặp thuận-lợi và trở-ngại như bất cứ sự việc nào phát-sinh ra trong cuộc sống của xả-hội loài người.Ở nơi này, ở nơi kia, người ta đã làm cho chử Quốc Ngử chính-xác hơn, rỏ-ràng hơn và minh -bạch hơn.

Hoặc lúc này, lúc khác,người ta đã làm cho chử Quốc Ngử rối-rắm, tối-tăm và khó hiểu.

Những mâu-thuẩn làm lợi và gây hại như thế này là một điều không hay cho văn-tự của nước nhà. Chúng ta phãi tìm cách loại bõ những cái hại  và làm tăng thêm những cái lợi.

Hiện nay, mọi người viết theo ý riêng của mình  mà không theo một quy-tắc nào, ai cũng tự cho rằng mình đúng.Nhưng chĩ ra cho được chổ đúng, chổ sai một cách hợp-lý và thuyết-phục thì chưa có ai làm được. Vì vậy chúng ta rất cần có trí-tuệ của tất-cả mọi người đễ xây-dưng bộ Quy-tắc viết chử Việt, đưa chử Quốc-ngử vào sự thống-nhất trong cách viết.

Đây là việc không dể-dàng và nhanh chóng, nhưng chúng ta buộc phãi làm cho bằng được.Thế-hệ này chưa làm thì thế-hệ sau sẽ làm. Đây là vận-mệnh của dân-tộc và đất nước, mọi người phãi có trách-nhiệm góp sức.

*

Trước tiên là phải tập-hợp ý-kiến.

Sau đó định-nghỉa và phân loại, sắp xếp, biên chép rồi lưu-trử.

Cuối cùng là đề ra những nguyên-tắc hợp-lý nhất đễ xây-dựng thành Bộ Quy Tắc.

Như vậy, cần phải có nhiều nhóm đễ làm việc.

Mỗi năm một lần, phãi cập-nhật đưa vào những cách-tân hoàn-thiện nhất.

Cứ thế, dòng chãy cãi-tiến đễ hoàn-thiện sẽ không bao giờ ngừng.

*

Khoảng 1985 đến 1995, nước Cộng Hòa Xả Hội Chủ Nghỉa Việt Nam tiến-hành cuộc cải-cách giáo-dục toàn-diện và toàn quốc.Có hai việc mà tôi không muốn quên.

Thứ nhất:-Đa-số ý-kiến cho rằng chử viết sau cãi-cách giáo-dục giống như cọng mì ăn liền, kém-cỏi hơn so với  cách viết truyền-thống.

Thứ hai: Lạm-dụng i-ngắn đến mức kỳ-quái.

Có câu chuyện khôi-hài như thế này:

Trong lớp học, cô giáo điễm-danh học-sinh, gọi:-Nguyển Thị Thúi.

Một học-sinh đứng dậy nhăn-nhó:-Thưa cô, tên em là Nguyển Thị Thúy.

Cô giáo thãn-nhiên: Em về đỗi tên đi, cãi-cách giáo-dục rồi, không dùng y-dài nửa!

Ở chuyên-mục Chuyện Đông Chuyện Tây (tạp-chí Kiến Thức Ngày Nay), người phụ-trách là An Chi khẵng-định:

Y-dài và i-ngắn giống nhau,muốn dùng thế nào cũng được.

Thí-dụ: Chử tây có thể viết là tâi.(!!!)

Và,hiện nay là năm 2014, trên hệ-thống truyền-hình của nước CHXHCNVN vẫn lạm-dụng i-ngắn một cách bừa-bải.Nhất là phần phụ-đề tiếng Việt cho phim nước ngoài.Những chử như: Chân-lí, thời kì, mĩ-thuật, nước Mĩ, kỉ thuật, lí-tưởng, kí tên,  kì lạ…được coi là đúng chuẩn-mực.

Thế-hệ i-ngắn hiện nay đang ở độ tuổi từ 25 đến 40. Ngoài 40 là thế-hệ i-ngắn “bỗ-túc văn-hóa”.

*

Dời núi lấp sông thì dễ, thay đỗi thói quen là khó!

Người ta thường hay phụ thuộc vào thói quen của chính mình.Khi một thói quen đã thành hình trong một người, thì nó sẽ đeo bám người đó cho tới ngày nhắm mắt Có những thói quen trỡ thành bệnh nghiện như: hút thuốc lá, uống rượu…

Do vậy, trở-ngại lớn nhất trong việc biên-soạn bộ Quy-tắc viết chử Việt chính là thói quen của chúng ta.

Phần 1. 

Những đề-nghị :

1-)  i-ngắn, y-dài:

Khi i-ngắn hoặc y-dài đứng ở cuối chử, mà  trước nó là một hay nhiều phụ âm,thì cách-dùng như sau:

Động-từ và trạng-từ thì dùng i-ngắn.

Thí-dụ:

Đi đứng, di-chuyễn, vi-phạm, qui cố-hương, sĩ vã, vô sĩ…

Danh-từ, tính-từ và các từ-loại khác thì dùng y-dài

Thí-dụ:

Bác-sỷ, ca-sỷ, tường-vy, lý lẽ, quy-tắc, vy-trùng, sỷ-quan, kẻ sỷ, phượng vỷ…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

Thí-dụ: võ-sỷ, li khai, phi-cơ…

Đoạn dưới đây chờ bỗ-túc:

Khi i-ngắn và y-dài đứng ỡ cuối chử, mà trước nó là một hay nhiều phụ-âm và sau nó là một hay nhiều nguyên-âm.

Thí-dụ:  Chia, chya

Khi i-ngắn và y-dài đứng ỡ đầu chử mà sau nó là một hay nhiều nguyên-âm.

Thí-dụ: Iu, yu…Iêu, yêu…

Khi i-ngắn hoặc y-dài đứng ỡ đầu chử mà sau nó là một hay nhiều phụ-âm.

Thí-dụ: ích, y1ch…In, inh…

Khi i-ngắn hoặc y-dài đứng ỡ giửa chử, mà trước nó và sau nó đều là nguyên-âm.

Thí-dụ: Chưa thấy chử nào.

Khi i-ngắn và y-dài đứng ỡ giửa chử, mà trước nó và sau nó đều là phụ-âm.Thí-dụ:

Vinh, vynh  Xin…xyn

(Chờ bỗ-túc )

2-) Dấu hỏi và dấu ngã

Động-từ và trạng-từ thì dùng dấu ngã.

Thí-dụ: đẫy thuyền, giã gạo, giặt-giũ, đỗ thuyền, đỗ xe, chĩ trõ, cãi vã…

Tính-từ, danh-từ và các từ-loại khác thì dùng dấu hỏi.

Thí-dụ: màu đỏ, vỏ cây, nhỏ-nhắn, vỉnh-viển, đổ đen, đổ trắng, củ cải…

Thời-tương-lai thì dùng dấu ngã.

Thí-dụ: sẽ tới…

Thời-quá-khứ thì dùng dấu hỏi.

Thí-dụ: đả qua, dỉ vảng…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

Thí-dụ: võ-sỷ, sẵn-sàng, con trõ…

Giãi-pháp bõ dấu hỏi,chỉ dùng dấu ngã cũng nên được xem-xét.

*

3-) s và x

(ết-sờ và ít-xì)

Động-từ và trạng-từ thì dùng s.

Thí-dụ: sấn tới, sây dựng, chia sẽ, sắm-sửa, sem sét, sỗ xố…

Tính-từ, danh-từ và các từ-loại khác thì dùng x.

Thí-dụ: xe cộ, xanh tốt, xinh đẹp, xang-trọng, xương cốt, xố thứ-tự…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

Thí-dụ: sinh-sãn, sống còn…

4-) k và c

Động-từ và trạng-từ thì dùng k.

Thí-dụ: tấn-kông, kãi-kách, kan gián, kầm tay…

Tính-từ, danh-từ và các từ-loại khác thì dùng c.

Thí-dụ: cây cối, con người, cửa cổng, cầu đường, cổng ngỏ…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

Thí-dụ: Kách-mạng…

5-) gi và d

Động-từ và trạng-từ thì dùng gi.

Thí-dụ: giành-giật, giương vây, giẫy giụa, giãng-giãi, giạy giỗ…

Tính-từ, danh-từ và các từ-loại khác thì dùng d.

Thí-dụ: dầy dép, dang-hà, cúng dổ…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

Thí-dụ: giông-tố, giãng-viên…

6-) Viết hoa.

a-  Danh-từ riêng thì viết hoa.

Thí-dụ: anh Ba, chị Tư, Tiền-giang, Nam-bộ,

Danh-từ chung thì viết thường.

Thí-dụ: bàn ghế, con người, thú vật,

b-Những chử như:

Tháng Một đến tháng Mười Hai.

Ngày mùng Một đến ngày Ba Mươi Mốt.

Thứ Hai đến Chúa Nhât.

Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc.

Tất cả đều phãi viết hoa.

Khi ta viết hoa chử Xuân,có nghỉa là mùa Xuân của trái đất, là mùa khỡi đầu cho một năm, chỉ là hửu-hạn trong vòng ba trăm sáu mươi lăm ngày ngắn-ngủi.

Nếu ta viết chử xuân không hoa thì đó có nghỉa là mùa xuân của vủ-trụ, là sự vỉnh-cửu

Viết hoa chử Trời là có ý chỉ một vị thần.Viết thường chử trời là có ý chỉ toàn-bộ không-gian, vủ-trụ ở phía trên đầu.

Mùa Xuân trái Đất, mùa Xuân mặt Trăng, mùa Xuân sao Hỏa.

Mùa xuân thiên-hà, mùa xuân liên-hành-tinh, mùa xuân vủ-trụ.

(Nếu ta nghĩ có môt Vủ-trụ duy-nhất thì viết hoa, có nhiều vủ-trụ thì viết thường )

Xuân, Hạ, Thu, Đông (viết hoa) là bốn mùa của Trái Đất,

xuân, hạ, thu, đông (viết thường) là bốn mùa của vủ-trụ.

Đông, Tây, Nam, Bắc (viết hoa) là bốn hướng của mặt đất,

đông, tây, nam, bắc (viết thường) là bốn hướng của vủ-trụ.

 C- Tên người

Có hai chử thì viết hoa cả hai.

Thí-dụ: Nguyển Du, Lê Lợi, Nguyển Huệ…

Tên người có từ ba chử trỡ lên thì có hai cách viết :

Viết hoa tất-cả (không có gạch nối).

Thí-dụ : Nguyển Tri Phương, Phan Thanh Giản,Sơn Điền Bảo Chiêu …                

Chỉ viết hoa tên và họ, chử lót viết thường (có gạch nối).

Thí-dụ :Nguyền-tri-Phương, Phan-thanh-Giản, Sơn-điền-bảo-Chiêu

(Tên đất có thể viết như tên người)

7-) Chấm, phết và gạch nối.

Khi hết một ý thì phải chấm câu.

Nếu câu dài thì phãi phết đễ phân đoạn, và ngắt hơi.

Những chử có liên-quan mật-thiết với nhau, kết thành chử đôi, chử ba hoặc nhiều hơn thì phải có gạch nối.

Thí-dụ:

Chánh-phủ, Quốc-hội, quyết-tâm, can-đãm, xung-phong, khu-mật-sứ, kiễm-sát-viện, Bắc-bộ-phủ, Trung-nam-hải, thế-thiên-hành-đạo…

(Không muốn dùng gạch nối, thì những chử Hán Việt, từ hai chử trở lên viết liền với nhau.

Thí-dụ:

Chánhphủ, Quốchội, Trungnamhải, Thếthiênhànhđạo…)

Nhận-xét:

Hán Việt mới có chử đôi, chử ba hoặc nhiều hơn (đa). Thuần Việt chỉ có chử một (đơn)

Thí-dụ: Bình-đẳng, bình-dân, bình-quyền…(H.V) Bình mực, bình trà, bình hoa, bình rượu…(T.V)

Đối-thoại, đối-trọng, đối-tác…(H.V) Đối chọi, đối đế, đối mặt…(T.V)

Như vậy, gạch nối cũng dùng đễ xác-định chử nào là chử H.V.

-Nếu không muốn dùng gạch nối thì viết hai chử liền nhau. Thí-dụ:

Bìnhđẳng, bìnhquyền, bìnhdân….

Rõ-ràng là Thuần Việt chỉ có tiếng đơn và chử đơn.Một chử chỉ có một tiếng, một tiếng chỉ có một chử.

Những chử láy và điệp-ngử cũng phãi có gạch nối.

Thí-dụ;

Chử láy: Lúng-liếng, lẵng-lơ, le-lói, dang-dỡ, bãng-lãng, đỡ-đần, đờ-đẫn…

Điệp-ngử: Chim đa-đa, chim le-le…)

*

😎 Những chử chưa định-nghỉa.

( Xin đọc ‘Bộ chử Việt’ sẽ thấy những chử chưa được định-nghỉa)

Sở dỉ có tình-trạng còn rất nhiều chử Thuần Việt chưa được định cho một ý-nghỉa nào đó, là vì thói quen thích dùng chử Hán Việt, vừa tiện-lợi vừa văn-vẻ. Do vậy trong các quyển từ-điển Hán Việt tác-giả thường dùng chử Hán Việt để giãi-thích một chử Hán Việt. Đơn cữ một trường-hợp trong Hán Việt từ-điển của Đào Duy Anh.

Đó là chử Bà-la-môn đã được giãi-thích như sau:(Một chủng tộc ở Ấn Độ làm giai cấp cao nhất trong quốc dân, chủ trì tôn giáo–Thứ tôn giáo ở Ấn Độ thờ Bà-la-môn là vị thần tối tôn, ngoài ra có ba ức ba nghìn vạn thần nửa(Bramane,Bramanisme).Có rất nhiều định-nghỉa kiểu như vậy trong các quyển Hán Việt từ-điển, nếu không muốn nói là chúng chiếm phần số nhiều, áp-đão Thuần Việt.

Chúng ta rất cần phãi phát-triễn Thuần Việt dùng đễ giãi-thích Hán Việt. Bao nhiêu năm nay chúng ta không chịu phát-triễn Thuần Việt mà luôn chạy theo Hán Việt chỉ vì thói quen trước bày nay làm, không muốn tạo chử mới và định-nghỉa lại những chử cỏn mơ-hồ.

Như vậy việc phát-triễn chử mới cũng là một phần quan-trọng trong việc biên-soạn bộ Quy-tắc viết chử Việt.

Yêu-cầu cao nhất của bộ Quy-tắc là:

Khi viết một câu hay nói một câu, thì người đọc và người nghe sẽ hiễu ngay và hiễu chính-xác, không thễ hiễu lầm ý-nghỉa của câu viết hoặc câu nói. Câu nói và câu viết chỉ có một ý-nghỉa duy nhất, không có ý-nghỉa thứ hai.Nếu có ý-nghỉa thứ hai hoặc nhiều hơn thì đó là do sự cố tình chơi chử của người nói, người viết.

Cần phãi  làm giàu thêm cho kho chử Việt, điều đó chỉ có lợi mà chẵng hề gây thiệt-hại gì cho văn-tự, văn-hóa  của chúng ta..

Cứ hễ phát-âm được thì kí-âm được. Kí-âm được thì phãi có ý-nghỉa nào đó.

9-) Những chử định-nghỉa chưa rỏ-ràng.

Không-gian, vủ-trụ, hỉ, lạc, hoan, vô, bất…và còn nhiều nửa.

Thí-dụ:

Không-gian: khoảng không trống rổng, không chứa vật-chất (có thể rất nhỏ hoặc rất lớn)

Vủ-trụ: Khoảng không-gian có chứa vật-chất (có thể rất nhỏ hoặc rất lớn)

Hĩ: vui mừng

Hoan: vui-vẻ

Lạc: vui sướng, vui thỏa.

Vô: không, không có (không phãi động-từ)

Bất: chẵng, chãng có (danh-động-từ)

Vật: đừng (động-từ)

Khi một chử hoặc một tiếng mà Thuần Việt có, thì không dùng Hán Việt.

Thí-dụ: lòng heo, lòng bò ( Nôi-tạng heo, nội tạng bò). Có một không hai ( Độc nhất vô nhị) Thay trời làm đạo ( Thế-thiên-hành-đạo). Ngựa đến nên công (Mả đáo thành-công)…vv…

*

10-) Chử: p,ph,gh và g, chử ng và ngh

Chử p (khi đứng ở đầu chử mà sau nó không có phụ-âm h) thì chỉ dùng đễ phiên-âm tiếng nước ngoài.

Thí-dụ:Pa-ri, nhạc pop...Khi kết-hợp với h thì trỡ thành âm phờ(ph) cùng âm với f.

Khi đứng ở cuối chử, là phụ-âm của các nguyên-âm: a ă â, e ê, i, o ô ơ (ap.ep,ip,op…)

Chử gh và g có cùng một âm là gờ hay ghờ.Nay chỉ dùng gh.

Thí-dụ: trước đây viết: nhà ga, con gà, ghe thuyền, ghê-gớm…Nay chỉ dùng gh mà không dùng g,Thí-dụ: nhà gha, con ghà, ghe thuyền, ghê-ghớm…

-Có những chử có thễ lược bớt được.

Đó là chử (ng).

Khi chử ng đứng ở cuối chử, thì co-thễ lược bõ chử n.

Thí-dụ: Tug-tăg, lẵg-lặg…

 

*

Chử ng và ngh

Trước đây viết: nghi-ngờ, ngỗ-ngược. Nay chĩ dùng ngh. Thí-dụ: nghi-nghờ.nghỗ-nghược…

*

11-) Nói lái.

Khi nói lái,ta phãi giữ đúng vị-trí các phụ-âm và 5 dấu.Chỉ lái từ phần nguyên-âm  cho đến cuối chử .

Thí-dụ: th ường-tr ú = th ù-tr ướng, h ải-âu = h ẩu-ai.

Có những chử ngoại-lệ, phãi đỗi vị-trí của dấu.Thí-dụ: Biết rồ iBồi riết.

Có những chử dù đã đỗi  dấu,nhưng vẫn không lái được.Thí-dụThiết-tha,tha-thiết.

Nếu câu lái có 3 chử thì không lái chử ở giửa.Thí-dụ:-Xô-xích-le Xe-xích-lô.

Nếu câu lái có 4 chử thì ngắt ra làm hai.Thí-dụ:-S iên-đ ờn B iểu-ch ao =S ơn-đ iền B ảo-ch iêu.

Xà con = (Còn xa.) Thưa bà rằng = (Răng bà thừa).  Xuân ngủ = (Ngu xuẩn)...là cách nói lái hoàn-toàn sai.

*

12-) Bảng chử cái.

Có 40 chử.
Trong đó: Nguyên-âm 12. Phụ-âm đơn 17. Phụ-âm đôi 10. Phụ-âm ba 01.

Nguyên-âm:

A Ă Â E Ê I Y O Ô Ơ U Ư

Phụ-âm đơn:

B (bờ) C (cờ) D (dờ) Đ (đờ) G (gờ1) H (hờ) K (ka) L (lờ) M (mờ) N (nờ) P (phê) Q (cu) R (rờ) S (sờ) T (tờ) V (vờ) X (xì)

Phụ-âm đôi:

CH (chờ) GH (ghờ2) GI* (di) KH (khờ)  NG (ngờ2) NH (nhờ) PH (phờ) TH (thờ) QU* (quờ) TR (trờ)

Phụ-âm ba:

NGH (ngờ3)

*Ngoại-lệ.

*

Âm PH (phờ) đồng-âm với F.Vì vậy có thể đỗi thành F.

Thí-dụ: Fương-tiện,Fáp-luật..

*

Con người đặt ra chử viết thì con người củng có thể hũy-bõ hoặc sữa-chữa cho chử viết hợp-lý hơn, rỏ-ràng hơn, sáng-sủa hơn.Nhửng ai cho rằng chử Quốc-ngử (chử Việt) đả hoàn-thiện, cứ để thế mà dùng, không cần sữa-chữa gì nửa thì đó là sai-lầm rất ấu-trỉ. Và như thế, chử Quốc-ngử (chử Việt) sẽ vẫn cứ ở trong vòng rườm-rà, lộn-xộn.Ai muốn viết sao cũng được, không có chuẩn-mực hoặc quy-tắc nào dùng để xác định đúng sai, thì văn-chương và văn-hóa Việt Nam sẽ cứ giẫm chân tại chổ, không thể thăng hoa được.

Việc thay đỗi thói quen của con người rất khó-khăn và chậm-chạp. Như việc dùng sợi chỉ thay thế cây tăm đễ làm sạch răng, phãi mất hàng ngàn năm đễ làm việc này. Hiện nay phần đông người Việt Nam vẫn giữ thói quen làm sạch răng bằng cây tăm.

Hãy thay thế cây tăm bằng sợi chỉ. Đó là bước đầu tiên đễ Việt Nam tiến lên bậc cao hơn.

Trên đây chỉ là những ý-kiến phác-thảo sơ-khỡi. Đễ hoàn-thành bộ Quy-tắc viết chử Việt, thì một cá-nhân là không thễ làm được.

DỜI NÚI LẤP SÔNG THÌ DỂ,THAY ĐỔI THÓI QUEN LÀ KHÓ!

 

DSCF0147DSCF0133DSCF0475DSCF0705GE DIGITAL CAMERADSCF0134

 

Chí Phèo Nguyển-văn-Lợi- 13-07-2014 (8408) 66749835

*

Những câu viết mập-mờ không rỏ-ràng, gây hiễu lầm:

1- Bắt đầu tìm máy bay Malaysia mất tích ở Trung Quốc.

(Tuoitreonline ngày 18-03-2014)

*

Phiên xét xử vụ Cát Tường ném xác bệnh nhân qua ảnh

(tuoitreonline 14-04-2014)

14/04/2014 10:43 (GMT + 7)

*

Thủng cùng đồ do… giao hợp

(Tuoitreonline ngày 03-04-2014)

03/04/2014 03:55 (GMT + 7)

*

Ðại Hội Lòng Thương Xót Chúa 2014, Chủ Nhật, 27 Tháng Tư

(Nguoivietonline 23-04-2014) Thứ Năm, 8/5/2014, 09:42

*Giới thiệu ĐÈN CÙ truyện tôi của Trần Đĩnh

(nguoivietonline 22-08-2014)

*

Trần Gia Phụng

Trận Hoàng Sa- Biểu tượng hội yêu lòng yêu nước

Tháng Một 20, 2015 nhóm Văn Tuyển Để lại phản hồi

(Trình bày tại San Jose ngày 17-1-2015)

*

Phần 2.

Phép đặt câu.

Chưa có đề-nghị nào được đưa ra.

Sự quan-trọng của những chử:

Thì, mà, là.

*

Home*Quán VănChí Phèo Nguyển-văn-Lợi – Quy-tắc viết chử Việt

Chí Phèo Nguyển-văn-Lợi – Quy-tắc viết chử Việt

(Bản phác-thảo) Cập-nhật ngày 05-02-2015

Chử Việt còn được gọi là chử Quốc-ngử, do giáo-sỷ A-lếch-xăng Đờ Rốt cùng với các đồng-sự sáng-tạo ra, với mục-đích là để phục-vụ việc truyền-giáo ở Việt Nam.

Bằng cách dùng mẩu-tự La Tinh để ký-âm tiếng Việt, các giáo-sỷ đã tạo ra một thứ chử riêng biệt cho người Việt Nam, hoàn-toàn độc-lập với văn-tự của các quốc-gia khác trên thế-giới. Giáo-sỷ A-lếch-xăng Đờ Rốt và các đồng-sự đã có công rất lớn đối với chúng ta.

Suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã phải dùng thứ chử của người Tàu trong mọi hoạt-đông của đất nước và dân-tộc. Tưỡng như chúng ta sẽ mãi-mãi ỡ trong cái vòng kim-cô văn-tự của người Trung-quốc mà không bao giờ có-thể thoát ra được. Nhưng mọi việc đã bất-ngờ thay đỗi một cách rất ngoạn-mục.

Trước đây, chúng ta chỉ mới giành được độc-lập, tự-chủ về lảnh-thổ.

Hiện nay, chúng ta đã giành được độc-lập, tự-chủ về văn-tự, văn-hóa.

Có thể nói độc-lập, tự-chủ về văn-tự,văn-hóa còn quan-trọng hơn độc-lập về lãnh-thổ.

Lảnh-thổ mất, có thể lấy lại được. Văn-tự, văn-hóa mất đi thì dân-tộc Việt Nam sẽ bị diệt vong, hoặc đời-đời làm nô-lệ cho chủng-tộc khác. Như vậy không đáng sợ hay sao?.

Đối với riêng tôi, văn-tự Việt Nam (chử Quốc Ngử) là linh-hồn của dân-tộc và đất nước.  Chử Quốc-ngử còn, thì Việt Nam còn, điều đó đã trỡ thành chân-lý, không thễ tranh cãi.

Chử Việt ra đời đã gần bốn (400) trăm năm.

Trong quá-trình phát-triển, chử Việt cũng gặp thuận-lợi và trở-ngại như bất cứ sự việc nào phát-sinh ra trong cuộc sống của xả-hội loài người. Ở nơi này, ở nơi kia, người ta đã làm cho chử Quốc Ngử chính-xác hơn, rỏ-ràng hơn và minh -bạch hơn.

Hoặc lúc này, lúc khác, người ta đã làm cho chử Quốc Ngử rối-rắm, tối-tăm và khó hiểu. Có người đã phãi than: “Phong-ba, bảo-táp không bằng ngử-pháp Việt Nam”. Như vậy, sự phức-tạp và rối-rắm của chử Quốc-ngử là quá lớn.

Những mâu-thuẩn làm lợi và gây hại như thế này, là một điều không hay cho văn-tự của nước nhà. Chúng ta phãi tìm cách loại bõ những cái hại và làm tăng thêm những cái lợi.

Hiện nay, mọi người viết theo ý riêng của mình mà không theo một quy-tắc nào, ai cũng tự cho rằng mình đúng. Nhưng chĩ ra cho được chổ đúng, chổ sai một cách hợp-lý và thuyết-phục thì chưa có ai làm được. Vì vậy, chúng ta rất cần có trí-tuệ của tất-cả mọi người, đễ xây-dựng bộ Quy-tắc viết chử Việt, đưa chử Quốc-ngử vào sự thống-nhất trong cách viết.

Đây là việc không dể-dàng và nhanh chóng, nhưng chúng ta buộc phãi làm cho bằng được. Thế-hệ này chưa làm thì thế-hệ sau sẽ làm. Đây là vận-mệnh của dân-tộc và đất nước, mọi người phãi có trách-nhiệm góp sức.

*

Trước tiên là phải tập-hợp ý-kiến.

Sau đó định-nghỉa và phân loại, sắp xếp, biên chép rồi lưu-trữ.

Cuối cùng là đề ra những nguyên-tắc hợp-lý nhất đễ xây-dựng thành Bộ Quy Tắc.

Như vậy, cần phải có nhiều nhóm đễ làm việc.

Mỗi năm một lần, phãi cập-nhật đưa vào những cách-tân hoàn-thiện nhất.

Cứ thế, dòng chãy cãi-tiến đễ hoàn-thiện sẽ không bao giờ ngừng.

*

Khoảng 1985 đến 1995, nước Cộng Hòa Xả Hội Chủ Nghỉa Việt Nam tiến-hành cuộc cải-cách giáo-dục toàn-diện và toàn quốc. Có hai việc mà tôi không muốn quên.

Thứ nhất:-Đa-số ý-kiến cho rằng, chử viết sau cãi-cách giáo-dục giống như cọng mì ăn liền, kém-cỏi hơn so với cách viết truyền-thống.

Thứ hai: Lạm-dụng i-ngắn đến mức kỳ-quái.

Có câu chuyện khôi-hài như thế này:

Trong lớp học, cô giáo điễm-danh học-sinh, gọi:-Nguyển Thị Thúi.

Một học-sinh đứng dậy nhăn-nhó:-Thưa cô, tên em là Nguyển Thị Thúy.

Cô giáo thãn-nhiên: Em về đỗi tên đi, cãi-cách giáo-dục rồi, không dùng y-dài nửa!

Ở chuyên-mục Chuyện Đông Chuyện Tây (tạp-chí Kiến Thức Ngày Nay), người phụ-trách là An Chi khẵng-định:

Y-dài và i-ngắn giống nhau,muốn dùng thế nào cũng được.

Thí-dụ: Chử tây có thể viết là tâi.(!!!)

Và, hiện nay là năm 2014, trên hệ-thống truyền-hình của nước CHXHCNVN vẫn lạm-dụng i-ngắn một cách bừa-bải. Nhất là phần phụ-đề tiếng Việt cho phim nước ngoài. Những chử như: Chân-lí, thời kì, mĩ-thuật, nước Mĩ, kỉ thuật, lí-tưởng, kí tên, kì lạ…được coi là đúng chuẩn-mực. Trong chương-trình phim của HBO người ta dịch tên tài-tử là Lí Tiểu Long. Như vậy, họ Lý ở Việt Nam phãi đỗi thành họ Lí. Thí-dụ: Lí Thai Tổ, Lí Nam Đế, Lí Thường Kiệt…vv.

Thế-hệ i-ngắn hiện nay đang ở độ tuổi từ 25 đến 40. Ngoài 40 là thế-hệ i-ngắn “bỗ-túc văn-hóa”.

*

Dời núi lấp sông thì dễ, thay đỗi thói quen là khó!

Người ta thường hay phụ thuộc vào thói quen của chính mình. Khi một thói quen đã thành hình trong một người, thì nó sẽ đeo bám người đó cho tới ngày nhắm mắt. Có những thói quen trỡ thành bệnh nghiện như: hút thuốc lá, uống rượu…

Do vậy, trở-ngại lớn nhất trong việc biên-soạn bộ Quy-tắc viết chử Việt chính là thói quen của chúng ta.

*

Những đề-nghị :

1-) i-ngắn, y-dài:

Khi i-ngắn hoặc y-dài đứng ở cuối chử, mà trước nó là một hay nhiều phụ âm,thì cách-dùng như sau:

Động-từ và trạng-từ thì dùng i-ngắn.

Thí-dụ: Đi đứng, di-chuyễn, vi-phạm, qui cố-hương, sĩ vã, vô sĩ, kí tên…

Danh-từ, tính-từ và các từ-loại khác thì dùng y-dài

Thí-dụ: Bác-sỷ, ca-sỷ, tường-vy, lý lẽ, quy-tắc, vy-trùng, sỷ-quan, kẻ sỷ, phượng vỷ…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

Thí-dụ: Phi-cơ, hồi-kí, quãn-lí…

(Trường-hợp i-ngắn, y-dài đứng ở giửa chử hoặc đứng ở đầu chử hiện chưa bàn tới)

2-) Dấu hỏi và dấu ngã

Động-từ và trạng-từ thì dùng dấu ngã.

Thí-dụ: đẫy thuyền, giã gạo, giặt-giũ, đỗ thuyền, đỗ xe, chĩ trõ, cãi vã, thi đỗ…

Tính-từ, danh-từ và các từ-loại khác thì dùng dấu hỏi.

Thí-dụ: màu đỏ, vỏ cây, nhỏ-nhắn, đổ đen, đổ trắng, củ cải, mở heo, mở bò…

Thời-tương-lai thì dùng dấu ngã.

Thí-dụ: sẽ tới…

Thời-quá-khứ thì dùng dấu hỏi.

Thí-dụ: đả qua, dỉ vảng…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

Thí-dụ: võ-sỷ, vô-sĩ…

Giãi-pháp bõ dấu hỏi,chỉ dùng dấu ngã cũng nên được xem-xét.

*

3-) s và x

(ết-sờ và ít-xì)

Động-từ và trạng-từ thì dùng s.

Thí-dụ: sấn tới, sây dựng, chia sẽ, sắm-sửa, sem sét, sỗ xố…

Tính-từ, danh-từ và các từ-loại khác thì dùng x.

Thí-dụ: xe cộ, xanh tốt, xinh đẹp, xang-trọng, xương cốt, xố thứ-tự…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

Thí-dụ: sinh-sãn, sống còn…

4-) k và c

Động-từ và trạng-từ thì dùng k.

Thí-dụ: tấn-kông, kãi-kách, kan gián, kầm tay…

Tính-từ, danh-từ và các từ-loại khác thì dùng c.

Thí-dụ: cây cối, con người, cửa cổng, cầu đường, cổng ngỏ…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

Thí-dụ: Kách-mạng…

5-) gi và d

Động-từ và trạng-từ thì dùng gi.

Thí-dụ: giành-giật, giương vây, giẫy giụa, giãng-giãi, giạy giỗ…

Tính-từ, danh-từ và các từ-loại khác thì dùng d.

Thí-dụ: dầy dép, dang-hà, cúng dổ…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

Thí-dụ: giông-tố, giãng-viên…

6-) g và gh

Động-từ và trạng-từ thì dung g.

Thí-dụ: gây sự, gắng sức…

Danh-từ, tính-từ và các từ-loại khác thì dùng gh.

Thí-dụ: nhà gha, con ghà…

Danh-động-từ thì dùng như động-từ.

(Có một bất-hợp-lý: gờ-i-di-huyền= gì.)

Thí-dụ:

Ganh-gét.

(Cũng nên xem-xét bõ g mà chĩ dùng gh)

7-) ng và ngh

Động-từ và tính-từ thì dung ng

Thí-dụ: Ngi-ngờ, phãn-ngịch…

Danh-từ, tính-từ và các từ-loại khác thì dung ngh.

Thí-dụ: nghề-nghiệp, con nghười …

Danh-động-từ thì dung như động-từ.

Thí-dụ: ngang-ngược…

(Cũng nên xem-xét bõ ng mà chĩ dung ngh)

😎 Viết hoa.

a- Danh-từ riêng thì viết hoa.

Thí-dụ: anh Ba, chị Tư, Tiền-giang, Nam-bộ…

Danh-từ chung thì viết thường.

Thí-dụ: bàn ghế, con người, thú vật..

b-Những chử như:

Tháng Một đến tháng Mười Hai.

Ngày mùng Một đến ngày Ba Mươi Mốt.

Thứ Hai đến Chúa Nhât.

Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc.

Tất cả đều phãi viết hoa.

Khi ta viết hoa chử Xuân, có nghỉa là mùa Xuân của trái đất, là mùa khỡi đầu cho một năm, chỉ là hửu-hạn trong vòng ba trăm sáu mươi lăm ngày ngắn-ngủi.

Nếu ta viết chử xuân không hoa thì đó có nghỉa là mùa xuân của vủ-trụ, là sự vỉnh-cửu

Mùa Xuân trái Đất, mùa Xuân mặt Trăng, mùa Xuân sao Hỏa.

Mùa xuân thiên-hà, mùa xuân liên-hành-tinh, mùa xuân vủ-trụ…

Xuân, Hạ, Thu, Đông (viết hoa) là bốn mùa của Trái Đất,

xuân, hạ, thu, đông (viết thường) là bốn mùa của vủ-trụ.

Đông, Tây, Nam, Bắc (viết hoa) là bốn hướng của mặt đất,

đông, tây, nam, bắc (viết thường) là bốn hướng của vủ-trụ.

Viết hoa chử Trời là có ý chỉ một vị thần. Viết thường chử trời là có ý chỉ toàn-bộ không-gian, vủ-trụ ở phía trên đầu.

C- Tên người

Có hai chử thì viết hoa cả hai.

Thí-dụ: Nguyển Du, Lê Lợi, Nguyển Huệ…

Tên người có từ ba chử trỡ lên thì có hai cách viết :

Viết hoa tất-cả (không có gạch nối).

Thí-dụ: Nguyển Tri Phương, Phan Thanh Giản, Sơn Điền Bảo Chiêu …

Chỉ viết hoa tên và họ, chử lót viết thường (có gạch nối).

Thí-dụ: Nguyền-tri-Phương, Phan-thanh-Giản, Sơn-điền-bảo-Chiêu

(Tên đất thì viết theo tên người)

9-) Chấm, phết.

Khi hết một ý thì phải chấm câu.

Nếu câu dài thì phãi phết đễ phân đoạn và ngắt hơi.

10-) Gạch nối.

Những chử có liên-quan mật-thiết với nhau, kết thành chử đôi, chử ba hoặc nhiều hơn thì phải có gạch nối.

Thí-dụ: Chánh-phủ, Quốc-hội, quyết-tâm, can-đãm, xung-phong, khu-mật-sứ, kiễm-sát-viện, Bắc-bộ-phủ, Trung-nam-hải, thế-thiên-hành-đạo…

Nhận-xét:

Hán Việt mới có chử đôi, chử ba hoặc nhiều hơn (đa). Thuần Việt chỉ có chử một (đơn)

Thí-dụ: Bình-đẳng, bình-dân, bình-quyền…(H.V) Bình mực, bình trà, bình hoa, bình rượu…(T.V)

Đối-thoại, đối-trọng, đối-tác…(H.V) Đối chọi, đối đế, đối mặt…(T.V)

Như vậy, gạch nối cũng dùng đễ xác-định chử nào là chử Hán Việt.

Rõ-ràng là Thuần Việt chỉ có tiếng đơn và chử đơn. Một chử chỉ có một tiếng, một tiếng chỉ có một chử.

Những trường-hợp chử Thuần Việt cần dùng đến gạch nối:

  • Những chử láy, thí-dụ:

Lúng-liếng, đau-đáu, náo-nức, lan-man, leng-keng…vv

  • Những chử trùng lặp, thí-dụ:

Chim le-le (vịt trời), chim đa-đa, xe chạy bon-bon, bo-bo giữ chặt, boong-boong mấy tiếng chuông chùa…vv

-Những chử nước ngoài được phiên-âm sang tiếng Việt thì phãi có gạch nối.

Thí-dụ:

Pa-ri, Luân-đôn, Oa-sing-tơn…vv…

11-) Những chử chưa định-nghỉa:

( Xin đọc Bộ chử Việt sẽ thấy rất nhiều chử chưa được định-nghỉa.)

Rất nhiều chử chưa được định-nghỉa.

Sở-dỉ có tình-trạng còn rất nhiều chử Thuần Việt chưa được định cho một ý-nghỉa nào đó, là vì thói quen thích dùng chử Hán Việt, vừa tiện-lợi vừa văn-vẻ, theo như họ nghĩ. Do vậy, trong các quyển từ-điển Hán Việt, các tác-giả thường dùng chử Hán Việt để giãi-thích một chử Hán Việt. Đơn cữ một trường-hợp trong quyển Hán Việt từ-điển của Đào Duy Anh.

Đó là chử Bà-la-môn đã được giãi-thích như sau:

Một chủng tộc ở Ấn Độ làm giai cấp cao nhất trong quốc dân, chủ trì tôn giáo–Thứ tôn giáo ở Ấn Độ thờ Bà-la-môn là vị thần tối tôn, ngoài ra có ba ức ba nghìn vạn thần nửa(Bramane,Bramanisme).

Có rất nhiều định-nghỉa kiểu như vậy, trong các quyển Hán Việt từ-điển, nếu không muốn nói là chúng chiếm phần số nhiều, áp-đão Thuần Việt.

Chúng ta rất cần phãi phát-triễn Thuần Việt dùng đễ giãi-thích Hán Việt. Bao nhiêu năm nay chúng ta không chịu phát-triễn Thuần Việt mà luôn chạy theo Hán Việt chỉ vì thói quen trước bày nay làm, không muốn tạo chử mới và định-nghỉa lại những chử cỏn mơ-hồ.

Như vậy việc phát-triễn chử mới cũng là một phần quan-trọng trong việc biên-soạn bộ Quy-tắc viết chử Việt.

Yêu-cầu cao nhất của bộ Quy-tắc là:

Khi viết một câu hay nói một câu, thì người đọc hoặc người nghe sẽ hiễu ngay và hiễu chính-xác, không thễ hiễu lầm ý-nghỉa của câu viết hoặc câu nói. Câu nói và câu viết chỉ có một ý-nghỉa duy nhất, không có ý-nghỉa thứ hai. Nếu có ý-nghỉa thứ hai hoặc nhiều hơn, thì đó là do sự cố tình chơi chử của người nói, người viết.

Cần phãi làm giàu thêm cho kho chử Việt, điều đó chỉ có lợi mà chẵng hề gây thiệt-hại gì cho văn-tự, văn-hóa của chúng ta..

Cứ hễ phát-âm được thì kí-âm được. Kí-âm được thì phãi có ý-nghỉa nào đó.

12-) Những chử định-nghỉa chưa rỏ-ràng.

Không-gian, vủ-trụ, hỉ, lạc, hoan, vô, bất…và còn nhiều nửa.

Thí-dụ:

Không-gian: khoảng không trống rổng, không chứa vật-chất (có thể rất nhỏ hoặc rất lớn)

Vủ-trụ: Khoảng không-gian có chứa vật-chất (có thể rất nhỏ hoặc rất lớn)

Hĩ: vui mừng

Hoan: vui-vẻ

Lạc: vui sướng, vui thỏa.

Vô: không, không có (không phãi động-từ)

Bất: chẵng, chẵng có (danh-động-từ)

Vật: đừng (động-từ)

Khi một chử hoặc một tiếng mà Thuần Việt có, thì không dùng Hán Việt.

Thí-dụ: lòng heo, lòng bò ( Nôi-tạng heo, nội tạng bò). Có một không hai ( Độc-nhất vô-nhị) Thay trời làm đạo ( Thế-thiên hành-đạo). Ngựa đến nên công (Mả-đáo thành-công)…vv…

13-) Chử: p,ph.

Chử p (khi đứng ở đầu chử mà sau nó không có phụ-âm h) thì chỉ dùng đễ phiên-âm tiếng nước ngoài.

Thí-dụ:Pa-ri, nhạc pop…Khi kết-hợp với h thì trỡ thành âm phờ(ph) đồng-âm với f.

Khi đứng ở cuối chử, là phụ-âm của các nguyên-âm: a ă â, e ê, i, o ô ơ (ap.ep,ip,op…)

Chử g và gh:

Xin xem: 6.) và 7.)

14-) Nói lái.

Khi nói lái,ta phãi giữ đúng vị-trí các phụ-âm và 5 dấu. Chỉ lái từ phần nguyên-âm cho đến cuối chử .

Thí-dụ: th ường-tr ú = th ù-tr ướng, h ải-âu = h ẩu-ai.

Có những chử ngoại-lệ, phãi đỗi vị-trí của dấu.Thí-dụ: Biết rồi= Bồi riết.

Có những chử không thễ đỗi dấu, không thễ lái được.Thí-dụ: Thiết-tha, tha-thiết.

Nếu câu lái có 3 chử, thì không lái chử ở giửa.Thí-dụ: Xô-xích-le = Xe-xích-lô.

Nếu câu lái có 4 chử thì ngắt ra làm hai.Thí-dụ: S iên-đ ờn B iểu-ch ao =S ơn-đ iền B ảo-ch iêu.

Xà con = (Còn xa.) Thưa bà rằng = (Răng bà thừa). Xuân ngủ = (Ngu xuẩn)…là cách nói lái hoàn-toàn sai.

15-) Bảng chử cái.

Nguyên-âm:

A Ă Â E Ê O Ô Ơ U Ư I Y

Phụ-âm đơn:

B (bờ) C (cờ) D (dờ) Đ (đờ) (G) (gờ) H (hờ) K (ka) L (lờ) M (mờ) N (nờ) P (pi) Q (cu) R (rờ) S (sờ) T (tờ) V (vờ) X (xì)

Phụ-âm đôi:

CH (chờ) GH (ghờ) GI* (di) KH (khờ) NG (ngờ) PH (phờ) TH (thờ) TR (trờ) QU (quờ) Phụ-âm ba: NGH (ngờ)

Âm PH (phờ) đồng-âm với F. Vì vậy có thể đỗi thành F. Thí-dụ: Fương-tiện, Fáp-luật…

Nhân xét:

Bảng chử cái tiếng Việt có 40 chử cái. Trong đó: Nguyên-âm 12 chử. Phụ-âm đơn 17 chử. Phụ-âm đôi 10 chử. Phụ-âm ba 01 chử ( Ngh).

Riêng các chử như: GGH, NGNGH, có thễ bõ bớt G và NG.

*

Con người đặt ra chử viết, thì con người củng có thể hũy-bõ hoặc sữa-chữa cho chử viết hợp-lý hơn, rỏ-ràng hơn, sáng-sủa hơn. Nhửng ai cho rằng chử Quốc-ngử (chử Việt) đả hoàn-thiện, cứ để thế mà dùng, không cần sữa-chữa gì nửa thì đó là sai-lầm rất ấu-trỉ. Và như thế, chử Quốc-ngử (chử Việt) sẽ vẫn cứ ở trong vòng rườm-rà, lộn-xộn. Ai muốn viết sao cũng được, không có chuẩn-mực hoặc quy-tắc nào dùng để xác định đúng sai, thì văn-chương và văn-hóa Việt Nam sẽ cứ giẫm chân tại chổ, không thể thăng hoa được.

Trước đây, chúng ta dùng que tăm đễ làm sạch răng, hiện nay đã chuyễn sang dùng chỉ nha-khoa. Nhưng còn rất nhiều người vẫn giữ thói quen dùng tăm đễ xĩa răng. Thói quen rất khó mà từ bõ.

Từ que tăm đến sợi chỉ phãi mất hàng ngàn năm, nhưng rồi sợi chỉ nha-khoa vẫn đến và hàng triệu người vẫn chưa biết đến nó.

Hãy thay thế que tăm bằng sợi chỉ.

Đó là bước đầu tiên đễ Việt Nam tiến lên bậc cao hơn.

Thói quen của chúng ta là trỡ-lực lớn nhất ngăn cãn việc soạn bộ Quy-tắc viết chử Việt.

Trên đây chỉ là những ý-kiến phác-thảo sơ-khỡi. Đễ hoàn-thành bộ Quy-tắc viết chử Việt, thì một cá-nhân là không thễ làm được.

DỜI NÚI LẤP SÔNG THÌ DỂ,THAY ĐỔI THÓI QUEN LÀ KHÓ!

Chí Phèo Nguyển-văn-Lợi- 13-07-2014

Sẽ còn phãi cập- nhật nhiều lần nữa.

Đã xem 8966 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

Nguyễn Hồn Việt – Nữ cộng sản tiền bối: Họ là người có gò má cao? Hay…???

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương – VÔ KỶ TÍNH

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.

Comment

Name

Website

*********************************************************************************************

Xin phép hai tác-giả Đào Văn Bình và Stories in Saigon, cho phép tôi đặt bài viết của hai vị ở đây đễ làm tư-liệu.

Chí Phèo Nguyển-văn-Lợi

Cách viết hoa trong tiếng Việt

Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.

Điều này cũng dễ hiểu vì tôi không tốt nghiệp hoặc chưa theo học một truờng hoặc một lớp dạy viết văn nào. Mặc dầu tôi đã trải qua sáu năm đại học nhưng ở đại học người ta không chấm điểm theo nghệ thuật viết văn mà chấm điểm theo nội dung bài vở. Cho nên khi khởi đầu viết tác phẩm “Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ” năm 1987 thì kỹ thuật viết văn của tôi như nguyên tắc viết hoa, cách chấm câu v.v.. hoàn toàn là của Lớp Đệ Thất, Đệ Lục với lời dạy của thầy, cô trong môn Việt Văn rất đơn sơ mà tôi chỉ còn nhớ lõm bõm.

Sau mười năm sống ở Mỹ tức khoảng năm 1995 và sau khi đã làm việc trong các trường học, theo dõi các bài giảng dạy viết văn của học sinh Mỹ, đọc các sách biên khảo về văn chương Hoa Kỳ tôi mới bắt đầu hiểu một số vấn đề như quy tắc viết hoa:

I. Quy tắc viết hoa trong văn chương Việt Nam

Trước khi nói về nguyên tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ chúng ta thử tìm hiểu xem nguyên tắc viết hoa của văn chương Việt Nam như thế nào. Theo tôi, khi tổ tiên chúng ta còn xử dụng tiếng Hán để làm văn tự thì chắc chắn không có quy tắc viết hoa. Khi chữ quốc ngữ được sáng tạo thì quy tắc viết hoa của chúng ta đã được mô phỏng hoặc bắt chước theo lối viết hoa của văn chương Pháp.

Thế nhưng quy tắc mà chúng ta ứng dụng hoặc bắt chước lại hỗn loạn và không thống nhất. Tôi không hiểu lỗi này do cha ông chúng ta không có một Hàn Lâm Viện để đặt một quy tắc thống nhất hoặc giả đây là lỗi của nhà văn, nhà xuất bản, của ban biên tập, của người sắp chữ (sau này là người đánh máy) ? Riêng bản thân tôi, cho mãi tới năm 2000 – tức là sau 15 năm viết văn tôi mới chính thức tuân thủ lối viết hoa thống nhất theo văn chương Hoa Kỳ.

Điều này qúy vị độc giả có thể nhận thấy trong cuốn Ký Sự 15 Năm xuất bản năm 2000. Chứ còn 5 tác phẩm về trước, lối viết hoa của tôi hoàn toàn không thống nhất và hết sức lộn xộn. Sau đây là lối viết hoa trong văn chương Việt Nam theo thứ tự thời gian mà tôi đưa ra như những điển hình.

1) Viết hoa theo Việt Nam Tự Điển Khai Trí Tiến Đức (1931) :

Chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa và có gạch nối giữa các chữ. Thí dụ:

Kinh-dương-vương

Hà-nội, Hà-nam, Hà-tĩnh, Giáo-sư, Giáo-sĩ, Hương-giang, Nga-la-tư, Thái-bình-dương

Thế nhưng: A-di-đà-Phật (chữ Phật cuối cùng lại viết hoa)

2) Lối viết hoa không thống nhất trong Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng:

– Tên người: Viết hoa cả họ, tên và chữ lót theo văn chương Mỹ nhưng vẫn có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ: Dương-Huy, Nguyễn-Thiết-Thanh, Nguyễn-Yên. Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết: Dương-thị-Mai (chữ thị không viết hoa)

Tước hiệu, chức vụ: Thường không viết hoa và rất lộn xộn. Thí dụ:

cụ tú Ninh-Bắc, cụ tú Lãm, ông hàn Thanh

nhưng ở một chỗ khác lại viết Bà Cán, ông Tham Lộc

(Tham ở đây là một tước vị lại viết hoa)

Địa danh, dinh thự, công viên, thành phố, trường học:

Khái Hưng chỉ viết hoa chữ đầu và vẫn có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ:

Phúc-yên, Hà-nội, chùa Bách-môn

Thế nhưng ở những chỗ khác tất cả lại viết hoa. Thí dụ:

Thạch-Lỗi, Quan-Thánh, Phú-Thọ, Trù-Mật, Ninh-Bắc, Nam-Định, Gia-Lâm

Các con đường, con sông Khái Hưng viết hoa cũng không thống nhất: Thí dụ:

đường Quan-Thánh (Quan Thánh viết hoa)

Sông Tô-lịch (sông lại viết hoa, lịch lại không viết hoa)

Ngày, tháng Khái Hưng không viết hoa. Thí dụ: thứ bảy

3) Lối viết hoa của Nhất Linh trong Bướm Trắng:

Về địa danh, Nhất Linh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ:

Sầm-sơn, Hà-nội, Khâm-thiên, Chợ-lớn

Thế nhưng Sài Gòn có chỗ lại viết:

Sài gòn (không gạch nối)

Sài-gòn (có gạch nối)

Nhật bản (không gạch nối)

Về tên người Nhất Linh viết hoa theo lối Mỹ. Thí dụ:

Bác-sĩ Trần Đình Chuyên (không gạch nối, chữ lót viết hoa)

Nhưng ở một chỗ khác lại viết: Vũ-đình-Trương (có gạch nối và chữ lót lại không viết hoa)

4) Lối viết hoa không thống nhất của Thanh Tịnh trong Quê Mẹ:

Các địa danh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối.

Thí dụ: phá Tam-giang, trường Mỹ-lý, Trung-kỳ, Hà-nội

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Trường Mỹ-lý (trường viết hoa mà không phải ở đầu câu)

làng Hòa ấp (lại không có gạch nối)

chùa Đồng Tâm (chữ tâm lại viết hoa và không có gạch nối)

Chức vụ chỉ viết hoa chữ đầu. Thí dụ: Hương-thơ

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

ông đốc (đốc không viết hoa)

ông Huyện Phong (hai chữ sau lại viết hoa)

Miếu Thần Đá (tất cả lại viết hoa)

miễu Thánh (chữ miễu không viết hoa)

Các tên người đều viết hoa theo lối Mỹ nhưng có gạch nối. Thí dụ:

Hoàng-Thiên-Y, Khổng-Tử, Lý-Tịnh, Na-Tra

Nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Lê Bá Xuân (không gạch nối)

5) Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Văn Chí (1964) :

Về tên các quốc gia: Viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Việt-Nam, Đông-Nam-Á, Đông-Dương, Hòa-Lan

Nhưng ở nhiều chỗ khác chỉ viết hoa chữ đầu:

Hoa-kỳ, Thái-lan, Ấn-độ, Trung-cộng, Tây-tạng,

Tên các nhân vật: Có lúc viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Khuyển-Dưỡng-Nghị, Tôn-Văn, Vương-Dương-Minh

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

Phan-đình-Phùng, Tôn-thất-Thuyết (chữ lót không viết hoa)

Nhóm, hội đoàn, đoàn thể: Viết hoa không thống nhất, chỗ có gạch nối, chỗ không. Thí dụ:

Phong trào Cần-Vương

Phong trào Đông Du (không gạch nối)

Phong trào Văn-Thân

phong trào cộng sản (cả bốn chữ lại không viết hoa)

Các địa danh viết hoa cũng không thống nhất.

Thí dụ: Thượng-Hải, Hồng-Kông, Trà-Lùng, Hàng-Bông, Làng Cổ-Am, Yên-Báy, Hải-Phòng

Thế nhưng ở những chỗ khác lại chỉ viết hoa chữ đầu mà thôi. Thí dụ: Hà-nội, Quảng-châu, Quảng-nam, Lạng-sơn, Dương-tư, Nam-đàn v.v…

6) Lối viết hoa của Duyên Anh trong Về Yêu Hoa Cúc (1970) :

Đại lược về tên người, địa danh, tên trường học, tước hiệu Duyên Anh viết hoa theo lối Mỹ và bỏ gạch nối.

Thí dụ: Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Mai Thảo, Nguyên Sa, Đinh Hùng, Hàn Mặc Tử

Đại Học Văn Khoa, Đà Lạt, Hà Nội, Mỹ Tho

Thế nhưng còn hai chữ Sài Gòn thì Duyên Anh có lúc viết Sài-gòn (có gạch nối, chữ gòn không viết hoa) , rồi có lúc lại viết Sài gòn (không gạch nối)

Tên các tờ báo, tạp chí lối viết hoa cũng không thống nhất. Thí dụ:

nhật báo Đồng Nai, tuần báo Kịch Ảnh

tức là các chữ nhật báo, tuần báo không viết hoa)

thế nhưng lại viết: Đông Dương Tạp Chí (tạp chí lại viết hoa)

Các tác phẩm văn chương chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa (tức theo lối cũ) . Thí dụ:

Ngày về, Lạnh lùng, Chân trời cũ

Nhưng ở chỗ khác lại viết Tiêu Sơn Tráng Sĩ (tất cả đều viết hoa)

7) Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Khởi Phong trong Người Trăm Năm Cũ (1993) :

Hoàng Khởi Phong là cựu chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp Chí Văn Học trong khoảng thời gian từ 1989-1990. Dĩ nhiên với chức năng này ông phải đọc lại và coi lại rất nhiều bài viết thế nhưng lối viết hoa của ông cũng không thống nhất – điển hình qua tác phẩm Người Trăm Năm Cũ.

Các tước vị hoặc ngôi thứ trong gia đình đều viết hoa như:

Đề Thám, Cai Kinh, Cả Huỳnh, Cả Tuyển, Tổng đốc Lê Hoan…

Thế nhưng ở nhiều chỗ khác, các tước vị lại không viết hoa:

Thí dụ: vua Hàm Nghi, tướng Voyron, quan ba Lambert…

Các điạ danh, cách viết hoa cũng không thống nhất:

Thí dụ: Phủ Lạng Thương, tỉnh Hà Đông, huyện Nhã Nam

(Phủ, huyện, tỉnh đều là đơn vị hành chánh thế mà phủ viết hoa còn tỉnh và huyện lại không viết hoa) .

Các biến cố lịch sử đáng lý phải viết hoa lại không viết hoa.

Thí dụ: Cuộc khởi nghĩa Yên Thế, chiến khu Yên Thế. Đáng lý phải viết: Cuộc Khởi Nghĩa Yên Thế, Chiến Khu Yên Thế.

8) Lối viết hoa không thống nhất của Tạ Chí Đại Trường trong Tạp Chí Văn Học năm 2000:

Tạ Chí Đại Trường là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học sức học rất uyên bác nhưng cũng lại không để ý đến quy tắc viết hoa. Thí dụ:

Công Giáo (tất cả đều viết hoa)

Thế nhưng ở chỗ khác lại viết: Tam giáo (chữ giáo không viết hoa)

Tự Đức kí Dụ: Đáng lý kí viết hoa lại không viết hoa.

truờng Bảo hộ (chữ hộ không viết hoa) nhưng lại viết trường Chu Văn An (chữ an lại viết hoa)

Hồng vệ binh maxít phương Đông: (chữ phương không viết hoa) . Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Văn Minh Tây Phương (chữ phương lại viết hoa)

Hồng quân Trung Quốc (chữ quân đáng lý viết hoa lại không viết hoa)

Cộng hòa Đại Hàn (chữ hòa đáng lý viết hoa lại không viết hoa)

Phong trào Không liên kết Thế giới thứ Ba: Các chữ trào, liên kết, giới, thứ – đáng lý phải viết hoa lại không viết hoa.

9) Lối viết hoa của Nguyễn Hưng Quốc trong Tạp Chí Văn Học năm 2000

Nguyễn Hưng Quốc là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học. Là một nhà bình luận văn học rất kỹ lưỡng thế nhưng Nguyễn Hưng Quốc cũng không chú ý đến quy luật viết hoa.

Tên các tác phẩm đều viết hoa như:

Truyện Kiều

Thơ Mới của Hoài Thanh

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

thơ Nguyễn Công Trứ (chữ thơ không viết hoa)

Các tên nhóm, hội đoàn đều viết hoa như:

Nhóm Sáng Tạo (chữ nhóm viết hoa)

trường phái Phê Bình Mới (đáng lẽ chữ trường phái cũng phải viết hoa)

Rồi ở một chỗ khác lại viết:

nhóm Ngôn ngữ học tại Moscow (đáng lý phải viết: Nhóm Ngôn Ngữ Học tại Moscow

II. Quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ

Trong văn chương Hoa Kỳ, viết hoa gọi là “capital letter”, còn viết chữ thường gọi là “lower case”. Đây là quy tắc thống nhất được áp dụng ở khắp mọi nơi. Ít khi thấy nhà văn, nhà thơ, nhà báo Hoa Kỳ vi phạm quy tắc này. Nguyên do chính là vì xã hội của họ đã ổn định cả hai trăm năm nay, việc gì cũng đã trở thành quy củ, nề nếp, có trường ốc. Ngoài ra tờ báo nào, nhà xuất bản nào cũng có một ban biên tập chịu trách nhiệm về vấn đề này chứ không “tự biên tự diễn, tự đánh máy, tự in, tự sáng chế” như chúng ta.

Giới thiệu quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ ở đây không có nghĩa là cái gì của Mỹ cũng nhất. Quy tắc nào cũng tốt cả nhưng với điều kiện phải thống nhất. Không thể ở đầu trang viết:Phong trào Đông du rồi ở cuối sách lại viết Phong Trào Đông Du. Nếu cứ tiếp tục viết lộn xộn như thế này thì con cháu chúng ta cũng sẽ tiếp tục thừa kế cái lộn xộn đó và hậu quả là cả ngàn năm sau nền văn chương Việt Nam vẫn cứ tiếp tục lộn xộn làm người ngoại quốc điên đầu khi nghiên cứu văn chương Việt Nam. Sau đây là quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ:

1) Tên người:

Thí dụ: Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Lê Chân, Ông Tô Hiến Thành, Ông Cao Bá Quát, Ông Tôn Thất Thuyết, Bà Đoàn Thị Điểm, Ông Đặng Trần Côn, Cô Nguyễn Thị Giang, Cô Bắc.

2) Các con vật mình nuôi và thương mến/thú cưng (pet) :

con Vàng, con Vện, con Loulou, con Cún, con Bống

3) Các chức vụ, tước hiệu và các chữ tắt của tên:

Thí dụ: Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sử Gia Lê Văn Hưu, Chúa Sãi, Chúa Trịnh, Bà Huyện Thanh Quan, Đô Đốc Tuyết, Cai Tổng Vàng, Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Giáo Sư Nguyễn C. Hách, GS. Phạm B. Tâm, Đại Sứ Cabot Lodge, Tiến Sĩ Kissinger, Tổng Thống Roosevelt.

4) Ngôi thứ trong gia đình:

Thí dụ: Cô Bảy, Bác Ba, Bà Cả Tề, Thím Năm, Cô Ba Bến Tre, Cô Năm Phỉ, Út Trà Ôn.

5) Địa danh, dinh thự, công viên, thành phố, quận:

Thí dụ: Thành Phố Đà Lạt, Dinh Độc Lập, Phủ Thủ Hiến, Phủ Thủ Tướng, Tòa Thị Chính Nha Trang, Công Viên Tao Đàn, Vườn Hoa Con Cóc, Vườn Hoa Chéo, Công Viên Tao Đàn, Chùa Hương Tích, Thành Phố Hải Phòng, Quận Hương Điền, Quận Châu Thành Mỹ Tho, Xã An Hội …

5) Bến, cảng, phi trường:

Thí dụ: Phi Trường Tân Sơn Nhất, Ga Hàng Cỏ, Bến Vân Đồn, Bến Sáu Kho, Bến Đò Bính, Bến Đò Lèn, Bến Nhà Rồng, Cảng Hải Phòng

6) Đường:

Thí dụ: Đường Trần Hưng Đạo, Xa Lộ Biên Hòa, Quốc Lộ 1, Liên Tỉnh Lộ 7, Hương Lộ 8…

7) Chợ:

Thí dụ: Chợ Bến Thành, Chợ Đồng Xuân, Chợ Tân Định, Chợ Bà Chiểu, Chợ Lớn, Chợ Huyện Thanh Vân…

8) Núi, đèo, cửa ải:

Thí dụ: Núi Hoàng Liên Sơn, Núi Sam, Núi Ba Vì, Núi Ngũ Hành, Núi Ông Voi, Núi Ngự, Đèo Hải Vân, Đèo Cả, Ải Nam Quan…

9) Sông, thác, hồ, suối:

Thí dụ: Sông Hồng, Sông Mã, Sông Chu, Sông Hương, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Than Thở, Hồ Ba Bể, Thác Bản Giốc, Suối Giải Oan…

10) Vịnh, biển, đảo:

Thí dụ: Vịnh Hạ Long, Vịnh Cam Ranh, Rạch Cái Cối, Vũng Rô, Quần Đảo Hoàng Sa, Quần Đảo Trường Sa, Đảo Tây Sa, Côn Đảo, Hòn Bà, Hòn Chồng, Hòn Vọng Phu, Phá Tam Giang.

11) Ngày tháng:

Thí dụ: Tháng Giêng, Thứ Hai, nhưng mùa thu, mùa xuân (các mùa lại không viết hoa)

12) Ngày lễ:

Thí dụ: Lễ Hai Bà Trưng, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọ, Ngày Thiếu Nhi Toàn Quốc, Ngày Quốc Tế Nhân Quyền…

13) Nhóm, hội đoàn:

Thí dụ: Nhóm Sáng Tạo, Nhóm Ngàn Lau, Hội Đua Ngựa Phú Thọ, Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Hội Ái Hữu Gò Công, Câu Lạc Bộ Lướt Sóng, Môn Phái Vovinam, Môn Phái Thiếu Lâm, Trường Phái Siêu Thực, Trường Phái Dã Thú, Trường Phái Ấn Tượng.

14) Ban nhạc:

Thí dụ: Ban Thăng Long, Ban Tiếng Tơ Đồng, Ban The Rolling Stone, Đoàn Cải Lương Hương Mùa Thu, Đoàn Thoại Kịch Tiếng Chuông Vàng.

15) Báo chí, tựa đề các cuốn sách, thơ, bài báo, vở kịch, bức hoạ, bản nhạc, truyện, cuốn phim và tựa đề của một bài viết:

Thí dụ: Nam Phong Tạp Chí, Tạp Chí Bách Khoa, Nhật Báo Người Việt, Đoạn Tuyệt, Thơ Vũ Hoàng Chương, Truyện Kiều, Kịch Lôi Vũ, Trường Ca Con Đường Cái Quan, Cầu Sông Qwai…

16) Thánh thần và kinh sách:

Thí dụ: Trời, Phật, Chúa, Đức Thánh Trần, Bà Chúa Liễu Hạnh, Mẹ Âu Cơ, Kinh Kim Cang, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Coran, Kinh Cựu Ước..

17) Miền, vùng của một đất nước (nhưng không phải để chỉ phương hướng) . Thí dụ:

Miền Nam, Miền Bắc, Miền Trung, Vùng Cao Nguyên, Miền Tây, Vùng Tây Bắc, Bắc Bình Định…

18) Các biến cố lịch sử, tài liệu, mốc thời gian:

Thí dụ: Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ, Đệ II Thế Chiến, Thời Kỳ Chiến Tranh Lạnh…

Thời Kỳ Bắc Thuộc, Thời Kỳ Trịnh – Nguyễn Phân Tranh, Thời Kỳ Phục Hưng, Nhà Hậu Lê, Bình Ngô Đại Cáo…

19) Ngôn ngữ, chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo:

Thí dụ: Anh Ngữ, Pháp Ngữ, Hoa Ngữ, Nhật Ngữ, Việt Ngữ

Thái, Nùng, Dao, Mèo, Kinh, Thượng, Mường, Ra-Đê, Việt, Hoa v.v…

Việt Tịch, Pháp Tịch, Ấn Tịch…

Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Ấn Độ Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo…

20) Tên các con tàu, xe lửa, máy bay hoặc nhãn hiệu xe hơi:

Thí dụ: Tuần Dương Hạm Yết Kiêu, Khu Trục Hạm Vạn Kiếp, Hàng Không Mẫu Hạm Trần Hưng Đạo…La Dalat, Citroyen, Toyota v.v…

Thiên Lôi (Thunderchief) , Con Ma (Phantom)

21) Chữ đầu của câu trích dẫn:

Thí dụ: Trần Bình Trọng dõng dạc nói, “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”.

Xin quý vị nào nghiên cứu về văn phạm Việt Nam đóng góp thêm ý kiến để sau này có thể hình thành một quy tắc viết hoa thống nhất cho văn chương Việt Nam.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: